TỔNG QUAN VỀ HIỆP ĐỊNH DẪN ĐỘ GIỮA VIỆT NAM VÀ CAM-PU-CHIA
Hiệp định về dẫn độ giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Cam-pu-chia là một văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng trong lĩnh vực hợp tác tư pháp hình sự và đấu tranh phòng, chống tội phạm giữa hai quốc gia láng giềng. Hiệp định được ký kết tại Hà Nội vào ngày 26 tháng 12 năm 2013 bởi đại diện đầy đủ thẩm quyền của hai nước: Bộ trưởng Bộ Công an Trần Đại Quang (đại diện phía Việt Nam) và Bộ trưởng Bộ Tư pháp Ang-vông Vót-tha-na (đại diện phía Cam-pu-chia). Văn bản này thiết lập khung pháp lý toàn diện, chặt chẽ nhằm điều chỉnh các hoạt động liên quan đến nghĩa vụ, thủ tục, điều kiện dẫn độ và các khía cạnh pháp lý phát sinh trong quá trình chuyển giao người phạm tội.
1. Nghĩa vụ dẫn độ và phạm vi các tội phạm bị dẫn độ
Nghĩa vụ dẫn độ và các tiêu chí xác định tội phạm bị dẫn độ được quy định cụ thể nhằm đảm bảo tính tương thích pháp luật giữa hai quốc gia:
- Nghĩa vụ dẫn độ cơ bản: Hai Bên cam kết dẫn độ cho nhau bất kỳ người nào đang có mặt trên lãnh thổ của mình mà Bên kia yêu cầu để tiến hành truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án hình sự đối với một tội phạm có thể bị dẫn độ.
- Tiêu chuẩn về hình phạt: Tội phạm bị dẫn độ phải là tội phạm có thể bị xử phạt tù với thời hạn từ hai (02) năm trở lên hoặc hình phạt nghiêm khắc hơn theo quy định pháp luật của cả Bên yêu cầu và Bên được yêu cầu.
- Điều kiện đối với người đã bị kết án: Trường hợp yêu cầu dẫn độ nhằm mục đích thi hành hình phạt tù đối với người đã bị kết án, việc dẫn độ chỉ được thực hiện nếu thời hạn chấp hành hình phạt tù còn lại ít nhất là sáu (06) tháng.
- Nguyên tắc định danh tội phạm kép: Việc xác định hành vi phạm tội không phụ thuộc vào việc hai nước có xếp hành vi đó vào cùng một nhóm tội, sử dụng cùng thuật ngữ pháp lý hay cấu thành tội phạm chi tiết hay không. Chỉ cần tổng hợp các yếu tố hành vi do Bên yêu cầu cung cấp cấu thành tội phạm theo luật của Bên được yêu cầu.
- Tội phạm ngoài lãnh thổ: Nếu tội phạm xảy ra ngoài lãnh thổ Bên yêu cầu, việc dẫn độ vẫn được thực hiện nếu luật của Bên được yêu cầu cũng quy định hình phạt đối với hành vi đó và người bị yêu cầu là công dân của Bên yêu cầu. Nếu không thỏa mãn điều kiện này, Bên được yêu cầu có quyền tự quyết định việc dẫn độ.
2. Các trường hợp từ chối dẫn độ
Hiệp định phân định rõ ràng giữa các trường hợp bắt buộc phải từ chối dẫn độ và các trường hợp có thể từ chối dẫn độ nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia và quyền con người:
- Các trường hợp bắt buộc từ chối dẫn độ:
- Tội phạm có tính chất chính trị. Tuy nhiên, các hành vi bạo lực xâm phạm tính mạng, thân thể hoặc tự do cá nhân không được coi là tội phạm chính trị.
- Tội phạm bị yêu cầu dẫn độ là tội phạm quân sự.
- Có căn cứ rõ ràng cho thấy yêu cầu dẫn độ nhằm truy tố hoặc trừng phạt người đó vì lý do chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quốc tịch, quan điểm chính trị hoặc địa vị cá nhân.
- Người bị yêu cầu đã được tuyên vô tội, được đặc xá hoặc đã chấp hành xong hình phạt đối với tội danh đó tại Bên được yêu cầu hoặc ở một nước thứ ba.
- Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án theo luật của một trong hai Bên.
- Có căn cứ xác định người bị dẫn độ sẽ bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo tại Bên yêu cầu.
- Bên được yêu cầu đã tuyên bản án đối với người đó về cùng một tội danh trước khi nhận được yêu cầu dẫn độ.
- Các trường hợp có thể từ chối dẫn độ (tùy nghi):
- Người bị yêu cầu đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Bên được yêu cầu về chính hành vi phạm tội nêu trong yêu cầu dẫn độ.
- Bên được yêu cầu có thẩm quyền tài phán đối với tội phạm đó và sẽ tự tiến hành các thủ tục tố tụng hình sự đối với người bị yêu cầu.
- Vì lý do nhân đạo liên quan đến hoàn cảnh cá nhân của người bị yêu cầu, sau khi xem xét mức độ nghiêm trọng của tội phạm và lợi ích của Bên yêu cầu.
- Tội phạm có khung hình phạt tử hình theo luật của Bên yêu cầu, trừ khi Bên yêu cầu cam kết không áp dụng hoặc nếu có áp dụng thì không thi hành hình phạt tử hình đó.
- Nghĩa vụ thông báo: Khi từ chối dẫn độ, Bên được yêu cầu phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do từ chối cho Bên yêu cầu trong thời gian phù hợp.
3. Dẫn độ công dân và mối quan hệ với các điều ước khác
- Dẫn độ công dân: Hiệp định ghi nhận tiêu đề về dẫn độ công dân tại Điều 4, tạo cơ sở pháp lý cho việc xem xét các vấn đề liên quan đến việc dẫn độ người mang quốc tịch của nước được yêu cầu.
- Mối quan hệ với các điều ước quốc tế khác: Hiệp định này không làm ảnh hưởng đến bất kỳ quyền và nghĩa vụ nào mà hai Bên đã cam kết theo các điều ước quốc tế khác mà cả hai Bên đều là thành viên.
- Luật áp dụng cho thủ tục: Trừ khi Hiệp định có quy định khác, chỉ có pháp luật của Bên được yêu cầu mới được áp dụng đối với các thủ tục bắt khẩn cấp, dẫn độ và quá cảnh.
4. Cơ quan trung ương và thủ tục liên lạc
Để đảm bảo hiệu quả thực thi, Hiệp định chỉ định rõ các đầu mối liên lạc chính thức:
- Cơ quan trung ương phía Việt Nam: Bộ Công an.
- Cơ quan trung ương phía Cam-pu-chia: Bộ Tư pháp.
- Phương thức liên lạc: Các Bên liên hệ trực tiếp với nhau thông qua các Cơ quan trung ương này. Mọi thay đổi về Cơ quan trung ương phải được thông báo cho Bên kia thông qua đường ngoại giao.
5. Hồ sơ, tài liệu và thủ tục dẫn độ
Quy trình lập hồ sơ yêu cầu dẫn độ được quy định rất chặt chẽ về mặt hình thức và nội dung:
- Yêu cầu chung về hồ sơ: Yêu cầu dẫn độ phải được lập bằng văn bản, gửi qua Cơ quan trung ương (hoặc đường ngoại giao khi cần thiết). Hồ sơ phải được sao thành ba (03) bản (bản sao không cần chứng thực) và phải kèm theo bản dịch ra ngôn ngữ chính thức của Bên được yêu cầu.
- Các tài liệu bắt buộc chung: Văn bản tóm tắt sự kiện phạm tội (thời gian, địa điểm, đặc điểm pháp lý); văn bản mô tả nhân thân, ảnh, vân tay, quốc tịch và vị trí của người bị yêu cầu; các điều khoản luật quy định về tội danh, hình phạt và thời hiệu.
- Tài liệu đối với người bị truy tố: Bản gốc quyết định truy nã và hai (02) bản sao chứng thực; bản giải trình về việc bắt giữ và tài liệu chứng minh người bị yêu cầu chính là người trong quyết định truy nã.
- Tài liệu đối với người đã bị kết án: Bản gốc bản án có hiệu lực pháp luật và hai (02) bản sao chứng thực; văn bản xác nhận đồng nhất nhân thân; văn bản xác định thời hạn tù đã chấp hành; văn bản về cơ sở pháp lý để kháng cáo hoặc xét xử lại nếu người đó bị kết án vắng mặt.
- Dẫn độ đơn giản: Trong phạm vi pháp luật cho phép, nếu người bị yêu cầu tự nguyện đồng ý dẫn độ sau khi được giải thích rõ hậu quả, việc dẫn độ có thể được thực hiện ngay cả khi các yêu cầu về hồ sơ tài liệu chưa được đáp ứng đầy đủ.
- Chứng nhận tài liệu: Tài liệu được coi là hợp lệ nếu được ký bởi người có thẩm quyền và đóng dấu chính thức của cơ quan có thẩm quyền của Bên yêu cầu.
- Thông tin bổ sung: Nếu hồ sơ chưa đầy đủ, Bên được yêu cầu có quyền yêu cầu cung cấp thêm thông tin trong một thời hạn hợp lý do mình ấn định.
6. Biện pháp bắt khẩn cấp
Trong các trường hợp cấp bách, cơ chế bắt khẩn cấp được áp dụng để ngăn chặn đối tượng bỏ trốn trước khi hồ sơ chính thức được gửi đến:
- Cách thức gửi yêu cầu: Gửi bằng văn bản qua kênh ngoại giao, INTERPOL hoặc các phương tiện điện tử được hai Bên chấp thuận.
- Nội dung yêu cầu bắt khẩn cấp: Phải nêu rõ lý do khẩn cấp; mô tả nhân thân; nơi cư trú (nếu biết); mô tả hành vi phạm tội; trích dẫn điều khoản luật; quyết định truy nã hoặc bản án; và văn bản cam kết sẽ gửi yêu cầu dẫn độ chính thức.
- Thời hạn tạm giữ: Người bị bắt khẩn cấp sẽ được trả tự do sau sáu mươi (60) ngày kể từ ngày bị bắt nếu Bên được yêu cầu không nhận được hồ sơ yêu cầu dẫn độ chính thức theo đúng quy định. Việc trả tự do này không cản trở việc bắt giữ và dẫn độ lại nếu sau đó nhận được yêu cầu chính thức.
7. Giải quyết xung đột yêu cầu dẫn độ và thủ tục chuyển giao
Hiệp định đưa ra các nguyên tắc xử lý khi có nhiều quốc gia cùng yêu cầu dẫn độ một người và quy trình bàn giao cụ thể:
- Xử lý nhiều yêu cầu dẫn độ: Bên được yêu cầu sẽ quyết định dẫn độ cho quốc gia nào dựa trên các yếu tố: mức độ nghiêm trọng của tội phạm, thời gian và địa điểm phạm tội, ngày nhận yêu cầu, quốc tịch, nơi thường trú của đối tượng và khả năng dẫn độ tiếp giữa các nước yêu cầu.
- Thủ tục chuyển giao người: Sau khi có quyết định chấp thuận, hai Bên thỏa thuận thời gian và địa điểm bàn giao trên lãnh thổ Bên được yêu cầu. Bên yêu cầu phải đưa người bị dẫn độ ra khỏi lãnh thổ Bên được yêu cầu trong thời hạn hợp lý do Bên được yêu cầu ấn định; quá thời hạn này, Bên được yêu cầu có thể từ chối dẫn độ đối với tội danh đó.
- Trường hợp bất khả kháng: Nếu có trở ngại vượt quá tầm kiểm soát, Bên gặp trở ngại phải thông báo cho Bên kia để cùng thỏa thuận thời hạn chuyển giao mới.
8. Chuyển giao tài sản, hoãn chuyển giao và chuyển giao tạm thời
Các quy định bổ trợ nhằm đảm bảo hiệu quả giải quyết vụ án hình sự và bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan:
- Chuyển giao tài sản: Các tài sản do phạm tội mà có hoặc vật chứng vụ án sẽ được chuyển giao cho Bên yêu cầu nếu việc dẫn độ được chấp thuận, hoặc ngay cả khi việc dẫn độ không thực hiện được do đối tượng chết, mất tích hoặc trốn thoát. Việc chuyển giao phải tôn trọng quyền lợi của Bên được yêu cầu và bên thứ ba, và tài sản phải được hoàn trả miễn phí sau khi kết thúc tố tụng nếu có yêu cầu.
- Hoãn chuyển giao: Bên được yêu cầu có thể hoãn chuyển giao nếu người bị yêu cầu đang bị truy tố hoặc đang chấp hành hình phạt đối với một tội danh khác tại nước mình.
- Chuyển giao tạm thời: Cho phép chuyển giao tạm thời người đang thi hành án để Bên yêu cầu tiến hành các bước tố tụng, với điều kiện phải giam giữ và hoàn trả lại sau khi kết thúc thủ tục theo thỏa thuận bằng văn bản giữa hai Bên.
9. Quy tắc đặc biệt và chuyển giao cho nước thứ ba
Nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người bị dẫn độ, Hiệp định áp dụng nguyên tắc định danh chuyên biệt:
- Quy tắc đặc biệt (Rule of Speciality): Người bị dẫn độ không bị giam giữ, truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án tại Bên yêu cầu vì bất kỳ tội phạm nào thực hiện trước khi dẫn độ, ngoại trừ: tội phạm đã được chấp nhận dẫn độ; tội phạm khác có cùng yếu tố khách quan và hình phạt tương đương hoặc nhẹ hơn; hoặc tội phạm được Bên được yêu cầu đồng ý cho phép truy tố bổ sung.
- Ngoại lệ của quy tắc đặc biệt: Quy tắc này không áp dụng nếu người bị dẫn độ có khả năng rời khỏi lãnh thổ Bên yêu cầu nhưng không rời đi trong vòng bốn mươi lăm (45) ngày kể từ ngày được tự do, hoặc tự nguyện quay trở lại sau khi đã rời đi.
- Chuyển giao cho nước thứ ba: Bên yêu cầu không được dẫn độ người đó cho nước thứ ba trừ khi được Bên được yêu cầu đồng ý, hoặc thuộc các trường hợp ngoại lệ về thời hạn 45 ngày hoặc tự nguyện quay lại nêu trên.
10. Quá cảnh và chi phí thực hiện
Các khía cạnh hậu cần và tài chính được phân định rõ ràng:
- Thủ tục quá cảnh: Việc quá cảnh người bị dẫn độ từ nước thứ ba qua lãnh thổ của một Bên phải được sự đồng ý bằng văn bản của Bên quá cảnh. Không cần xin phép nếu quá cảnh bằng đường hàng không không hạ cánh; trường hợp hạ cánh ngoài dự kiến, phải gửi yêu cầu quá cảnh chính thức.
- Phân định chi phí:
- Bên được yêu cầu chi trả các chi phí phát sinh trên lãnh thổ của mình cho đến thời điểm chuyển giao người.
- Bên yêu cầu chi trả chi phí quá cảnh và chi phí áp giải người bị dẫn độ kể từ khi tiếp nhận.
- Các chi phí bất thường phát sinh sẽ do hai Bên cùng thống nhất phương án giải quyết.
11. Điều khoản thi hành và hiệu lực
Các quy định về sửa đổi, phê chuẩn và chấm dứt Hiệp định:
- Sửa đổi, bổ sung: Thực hiện bằng văn bản thỏa thuận giữa hai Bên và là một phần không thể tách rời của Hiệp định.
- Hiệu lực: Hiệp định phải được phê chuẩn và chính thức có hiệu lực vào ngày thứ ba mươi (30) kể từ ngày nhận được văn kiện phê chuẩn sau cùng qua đường ngoại giao.
- Chấm dứt hiệu lực: Mỗi Bên có thể đơn phương chấm dứt Hiệp định bằng cách thông báo bằng văn bản qua đường ngoại giao. Hiệp định sẽ hết hiệu lực sau sáu (06) tháng kể từ ngày Bên kia nhận được thông báo. Việc chấm dứt không ảnh hưởng đến các thủ tục dẫn độ đã được khởi động trước đó.
- Ngôn ngữ văn bản: Hiệp định được lập thành hai bản gốc bằng tiếng Việt, tiếng Khơ-me và tiếng Anh có giá trị pháp lý ngang nhau. Trong trường hợp có sự giải thích khác biệt, bản tiếng Anh sẽ được dùng làm căn cứ quyết định.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ NGOẠI GIAO | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 71/2014/TB-LPQT | Hà Nội, ngày 07 tháng 10 năm 2014 |
Thực hiện quy định tại khoản 3 Điều 47 của Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005, Bộ Ngoại giao trân trọng thông báo:
Hiệp định về dẫn độ giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Cam-pu-chia, ký tại Hà Nội ngày 23 tháng 12 năm 2013, có hiệu lực kể từ ngày 09 tháng 10 năm 2014.
Bộ Ngoại giao trân trọng gửi Bản sao Hiệp định theo quy định tại Điều 68 của Luật nêu trên./.
|
| TL. BỘ TRƯỞNG |
VỀ DẪN ĐỘ GIỮA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ VƯƠNG QUỐC CĂM-PU-CHIA
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Căm-pu-chia (sau đây gọi chung là “các Bên”, gọi riêng là “mỗi Bên”);
Với mong muốn nâng cao hơn nữa hiệu quả hợp tác chống tội phạm giữa hai nước trên cơ sở tôn trọng chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi thông qua việc ký kết một hiệp định về dẫn độ người phạm tội,
Đã thỏa thuận như sau:
Theo quy định của Hiệp định này, mỗi Bên đồng ý dẫn độ cho Bên kia bất kỳ người nào đang có mặt trên lãnh thổ của mình mà Bên đó yêu cầu để tiến hành truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án vì một tội có thể bị dẫn độ.
1. Các tội có thể bị dẫn độ theo quy định của Hiệp định này là các tội có thể bị xử phạt tù với thời hạn từ hai (02) năm trở lên hoặc nghiêm khắc hơn theo quy định pháp luật của cả hai Bên.
2. Trong trường hợp yêu cầu dẫn độ liên quan tới một người bị kết án về tội bị yêu cầu dẫn độ để thi hành hình phạt tù, thì việc dẫn độ chỉ được thực hiện nếu thời hạn chấp hành hình phạt còn lại ít nhất sáu (06) tháng.
3. Phù hợp với quy định của Điều này, việc xác định một hành vi phạm tội bị coi là tội phạm theo pháp luật của Bên yêu cầu và Bên được yêu cầu, mặc dù:
a) Nhóm tội có thể được quy định khác nhau; hoặc
b) Bản chất pháp lý của tội phạm, việc sử dụng thuật ngữ, tội danh hoặc việc xác định các đặc điểm của tội phạm khác nhau; hoặc
c) Các yếu tố cấu thành tội phạm theo pháp luật của Bên yêu cầu và Bên được yêu cầu khác nhau nhưng tổng hợp các yếu tố của sự kiện do Bên yêu cầu cung cấp đủ yếu tố xác định cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật hiện hành của Bên được yêu cầu.
4. Trong trường hợp tội phạm được thực hiện bên ngoài lãnh thổ của Bên yêu cầu, việc dẫn độ sẽ được tiến hành khi pháp luật của Bên được yêu cầu cũng quy định hình phạt đối với tội phạm đó và người bị yêu cầu dẫn độ là công dân của Bên yêu cầu. Trường hợp pháp luật của Bên được yêu cầu không quy định như vậy, Bên được yêu cầu có quyền quyết định việc dẫn độ.
1. Việc dẫn độ sẽ bị từ chối trong các trường hợp sau:
a) Tội phạm bị truy tố có tính chất chính trị. Tuy nhiên, hành vi bạo lực gây tổn hại đến tính mạng, thân thể, hoặc tự do cá nhân không được coi là có tính chất chính trị;
b) Tội phạm bị yêu cầu dẫn độ là tội phạm quân sự;
c) Có căn cứ rõ ràng thể hiện rằng yêu cầu dẫn độ đối với một tội phạm nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc trừng phạt người bị yêu cầu dẫn độ vì lý do chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quốc tịch, quan điểm chính trị, hay địa vị của người đó có thể làm người đó bị ảnh hưởng bởi các lý do trên;
d) Người bị yêu cầu dẫn độ đã được tuyên vô tội hoặc được đặc xá hoặc đã thi hành hình phạt về tội mà người này bị yêu cầu dẫn độ theo pháp luật của Bên được yêu cầu, hay của quốc gia thứ ba;
e) Theo pháp luật của Bên yêu cầu và Bên được yêu cầu, người bị yêu cầu dẫn độ được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc miễn thi hành hình phạt vì lý do hết thời hiệu;
f) Bên được yêu cầu có căn cứ để xác định rằng người bị yêu cầu dẫn độ sẽ bị tra tấn hoặc đối xử hay trừng phạt một cách tàn bạo và vô nhân đạo; hoặc
g) Bên được yêu cầu đã tuyên bản án đối với người được yêu cầu về cùng một tội trước khi đưa ra yêu cầu dẫn độ.
2. Việc dẫn độ có thể bị từ chối trong các trường hợp sau:
a) Người bị yêu cầu dẫn độ đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự ở Bên được yêu cầu về hành vi phạm tội được nêu trong yêu cầu dẫn độ;
b) Theo pháp luật của mình, Bên được yêu cầu có thẩm quyền tài phán đối với tội phạm nêu trong yêu cầu dẫn độ. Trong trường hợp này, cơ quan có thẩm quyền của Bên được yêu cầu sẽ tiến hành các thủ tục tố tụng để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đó;
c) Trong trường hợp đặc biệt, Bên được yêu cầu khi xem xét mức độ nghiêm trọng của tội phạm và lợi ích của Bên yêu cầu cho rằng việc dẫn độ sẽ không phù hợp với tinh thần nhân đạo vì hoàn cảnh cá nhân của người bị yêu cầu dẫn độ;
d) Tội phạm mà người bị yêu cầu dẫn độ bị buộc tội hoặc kết án hay vì bất kỳ tội nào mà vì đó người này bị giam giữ hoặc xét xử theo Hiệp định này, có hình phạt tử hình theo pháp luật của Bên yêu cầu, trừ khi Bên này cam kết sẽ không áp dụng hình phạt tử hình hoặc nếu có áp dụng thì không thi hành hình phạt tử hình đó.
3. Trong trường hợp từ chối yêu cầu dẫn độ, Bên được yêu cầu phải thông báo bằng văn bản cho Bên yêu cầu trong khoảng thời gian phù hợp và phải nêu rõ lý do từ chối.
1. Mỗi Bên có quyền từ chối dẫn độ công dân của quốc gia mình. Quốc tịch của người bị yêu cầu dẫn độ được xác định vào thời điểm thực hiện hành vi phạm tội nêu trong yêu cầu dẫn độ.
2. Khi Bên được yêu cầu từ chối dẫn độ công dân, phù hợp với pháp luật của mình và theo đề nghị của Bên yêu cầu, Bên được yêu cầu sẽ chuyển vụ án đó cho cơ quan có thẩm quyền để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc xét xử. Vì mục đích này, Bên yêu cầu sẽ chuyển cho Bên được yêu cầu các tài liệu và chứng cứ có liên quan đến vụ án.
ĐIỀU 5. MỐI QUAN HỆ VỚI CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ KHÁC
Hiệp định này sẽ không ảnh hưởng đến bất kỳ quyền và nghĩa vụ nào theo các điều ước quốc tế khác mà cả hai Bên là thành viên.
Trừ khi Hiệp định này có quy định khác, chỉ pháp luật của Bên được yêu cầu được áp dụng đối với thủ tục bắt khẩn cấp, dẫn độ và quá cảnh.
Cơ quan trung ương của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Bộ Công an.
Cơ quan trung ương của Vương quốc Căm-pu-chia là Bộ Tư pháp.
Mỗi Bên có thể thay đổi Cơ quan trung ương của mình nhưng phải thông báo cho Bên kia về sự thay đổi đó thông qua đường ngoại giao.
Các Bên liên hệ trực tiếp với nhau khi thực hiện Hiệp định này thông qua Cơ quan trung ương.
ĐIỀU 8. THỦ TỤC DẪN ĐỘ VÀ CÁC TÀI LIỆU CẦN THIẾT
1. Yêu cầu dẫn độ phải lập bằng văn bản và được gửi thông qua Cơ quan trung ương của các Bên. Trong trường hợp cần thiết, các Bên có thể liên hệ thông qua đường ngoại giao. Tất cả các tài liệu kèm theo yêu cầu dẫn độ phải được chứng nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 10 của Hiệp định này. Yêu cầu dẫn độ và tài liệu kèm theo được sao thành 03 bản. Các bản sao không cần phải chứng thực. Yêu cầu dẫn độ phải kèm theo các tài liệu sau:
a) Văn bản tóm tắt sự kiện nêu trong yêu cầu dẫn độ để xác định thời gian, địa điểm phạm tội và đặc điểm pháp lý của tội phạm;
b) Văn bản mô tả đặc điểm nhân thân của người nêu trong yêu cầu dẫn độ và thông tin liên quan về đặc điểm nhận dạng, quốc tịch, và nếu có thể, địa điểm của người bị yêu cầu dẫn độ;
c) Các điều khoản của pháp luật quy định về yếu tố cấu thành cơ bản và tội danh được nêu trong yêu cầu dẫn độ và hình phạt đối với tội phạm đó;
d) Các điều khoản của pháp luật quy định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án đối với tội đó, nếu có.
2. Yêu cầu dẫn độ liên quan đến người bị yêu cầu để truy tố sẽ phải kèm theo:
a) Bản gốc quyết định truy nã và hai (02) bản sao chứng thực quyết định truy nã do cơ quan có thẩm quyền của Bên yêu cầu ban hành; và
b) Bản giải trình về việc bắt và giam giữ để xét xử, bao gồm tài liệu chứng minh rằng người bị yêu cầu là người nêu trong quyết định truy nã.
3. Khi yêu cầu dẫn độ liên quan đến một người đã bị kết án, ngoài các tài liệu yêu cầu theo khoản 1 Điều này, còn phải kèm theo:
a) Bản gốc bản án có hiệu lực pháp luật và hai (02) bản sao chứng thực bản án này do tòa án của Bên yêu cầu đã tuyên;
b) Văn bản xác nhận người bị yêu cầu là người nêu trong bản án;
c) Văn bản xác định thời hạn đã chấp hành hình phạt; và
d) Văn bản quy định về cơ sở pháp lý để người bị yêu cầu dẫn độ chuẩn bị kháng cáo hoặc xét xử lại với sự có mặt của người đó, nếu người đó đã bị kết án vắng mặt.
4. Tài liệu kèm theo yêu cầu dẫn độ phải được gửi cùng với một bản dịch ra ngôn ngữ chính thức của Bên được yêu cầu.
Trong phạm vi pháp luật của Bên được yêu cầu cho phép, việc dẫn độ có thể được thực hiện theo các điều khoản của Hiệp định này nếu người bị yêu cầu dẫn độ đồng ý với việc dẫn độ sau khi nhận được đầy đủ thông tin về hậu quả của việc dẫn độ do cơ quan có thẩm quyền của Bên yêu cầu cung cấp, mặc dù các yêu cầu tại Điều 8 Hiệp định này chưa được đáp ứng đầy đủ.
ĐIỀU 10. CHỨNG NHẬN CÁC TÀI LIỆU KÈM THEO
1. Tài liệu gửi kèm theo yêu cầu dẫn độ quy định tại Điều 8 của Hiệp định này nếu được Bên yêu cầu chứng nhận trong bất kỳ quá trình dẫn độ nào sẽ được công nhận trên lãnh thổ của Bên được yêu cầu.
2. Một văn bản được chứng nhận theo quy định của Hiệp định này nếu được ký và chứng nhận bằng chữ ký của người có thẩm quyền và được đóng dấu chính thức của cơ quan có thẩm quyền của Bên yêu cầu.
Trường hợp Bên được yêu cầu xét thấy thông tin đã cung cấp kèm theo yêu cầu dẫn độ là không đầy đủ để tiến hành dẫn độ theo Hiệp định này, thì Bên đó có thể yêu cầu cung cấp thêm thông tin trong thời hạn phù hợp do Bên được yêu cầu ấn định.
1. Trong trường hợp khẩn cấp, cơ quan có thẩm quyền của Bên yêu cầu có thể yêu cầu bắt khẩn cấp người bị yêu cầu dẫn độ trước khi yêu cầu dẫn độ chính thức được gửi thông qua Cơ quan trung ương.
Yêu cầu bắt khẩn cấp được lập bằng văn bản và được gửi cho cơ quan có thẩm quyền của Bên được yêu cầu thông qua kênh ngoại giao hoặc thông qua Tổ chức Cảnh sát hình sự quốc tế (INTERPOL) hoặc kênh khác, bao gồm cả các phương tiện điện tử được các Bên chấp nhận.
2. Yêu cầu sẽ gồm các nội dung sau:
a) Văn bản nêu lý do cấp thiết của việc gửi yêu cầu;
b) Văn bản mô tả về người bị bắt để dẫn độ và nếu có thể, ảnh hoặc dấu vân tay;
c) Nơi cư trú của người bị yêu cầu, nếu đã biết;
d) Văn bản mô tả hành vi phạm tội của người bị yêu cầu bắt khẩn cấp;
e) Trích dẫn văn bản pháp luật quy định các yếu tố cấu thành và tội danh được nêu trong yêu cầu bắt khẩn cấp và hình phạt đối với tội đó;
f) Quyết định truy nã hoặc bản án đã có hiệu lực pháp luật đối với người bị bắt;
g) Văn bản về hình phạt có thể hoặc đã được áp dụng đối với các tội phạm đó; và
h) Văn bản khẳng định rõ sẽ gửi yêu cầu dẫn độ đối với người bị bắt.
3. Sau khi nhận được yêu cầu bắt khẩn cấp, phù hợp với pháp luật trong nước, Bên được yêu cầu sẽ tiến hành các thủ tục cần thiết để bảo đảm việc bắt giữ người bị yêu cầu dẫn độ và thông báo ngay kết quả cho Bên yêu cầu.
4. Một người bị bắt giữ theo yêu cầu bắt khẩn cấp sẽ được trả tự do sau sáu mươi (60) ngày kể từ ngày người đó bị bắt giữ nếu Bên được yêu cầu không nhận được yêu cầu dẫn độ cùng các tài liệu như quy định tại Điều 8 của Hiệp định này.
5. Việc trả tự do cho một người theo khoản 4 của Điều này sẽ không cản trở thủ tục để dẫn độ người này nếu sau đó lại nhận được yêu cầu dẫn độ.
ĐIỀU 13. NHIỀU YÊU CẦU DẪN ĐỘ ĐỐI VỚI MỘT NGƯỜI
1. Trong trường hợp nhận được yêu cầu dẫn độ từ hai hay nhiều quốc gia đối với cùng một người thì Bên được yêu cầu sẽ quyết định dẫn độ người đó cho một trong các quốc gia nêu trên và thông báo quyết định của mình cho Bên yêu cầu.
2. Khi quyết định dẫn độ một người cho một quốc gia nào đó, Bên được yêu cầu phải xem xét tất cả các yếu tố liên quan, cụ thể là:
a) Mức độ nghiêm trọng của từng tội phạm, nếu các yêu cầu liên quan đến các tội phạm khác nhau;
b) Thời gian và địa điểm thực hiện mỗi tội phạm;
c) Ngày đưa ra yêu cầu dẫn độ;
d) Quốc tịch của người bị yêu cầu dẫn độ;
e) Địa điểm thường trú của người bị yêu cầu dẫn độ; và
f) Khả năng dẫn độ tiếp giữa các quốc gia yêu cầu.
ĐIỀU 14. CHUYỂN GIAO NGƯỜI BỊ DẪN ĐỘ
1. Ngay sau khi có quyết định về yêu cầu dẫn độ, Bên được yêu cầu sẽ thông báo quyết định đó cho Bên yêu cầu.
2. Khi yêu cầu dẫn độ được chấp thuận, Bên được yêu cầu sẽ chuyển giao người bị dẫn độ ở một địa điểm trên lãnh thổ của mình theo thỏa thuận của hai Bên.
3. Hai Bên sẽ thỏa thuận để quyết định thời gian và địa điểm chuyển giao người bị yêu cầu dẫn độ. Bên được yêu cầu sẽ thông báo Bên yêu cầu thời gian giam giữ người bị dẫn độ trên lãnh thổ của Bên được yêu cầu, nếu đã áp dụng biện pháp giam giữ.
4. Bên yêu cầu sẽ đưa người bị dẫn độ ra khỏi lãnh thổ của Bên được yêu cầu trong một thời hạn hợp lý do Bên được yêu cầu ấn định, nếu hết thời hạn trên mà người đó chưa được chuyển đi thì Bên được yêu cầu có thể từ chối dẫn độ người đó về tội được nêu trong yêu cầu dẫn độ.
5. Nếu có tình huống phát sinh vượt quá khả năng kiểm soát của một Bên, cản trở Bên đó chuyển giao hay di chuyển người bị dẫn độ thì phải thông báo cho Bên kia biết. Các Bên sẽ cùng nhau thỏa thuận để xác định thời hạn chuyển giao mới và sẽ áp dụng các quy định tại khoản 4 của Điều này.
1. Trong phạm vi pháp luật của Bên được yêu cầu cho phép và trên cơ sở tôn trọng quyền lợi của quốc gia thứ ba, tất cả các tài sản do phạm tội mà có hoặc cần để làm vật chứng được tìm thấy trên lãnh thổ của Bên được yêu cầu sẽ được chuyển giao theo đề nghị của Bên yêu cầu nếu việc dẫn độ được chấp thuận.
2. Tài sản theo khoản 1 Điều này sẽ được chuyển giao cho Bên yêu cầu nếu Bên yêu cầu đề nghị, kể cả khi việc dẫn độ không thể thực hiện được vì người bị yêu cầu đã chết, mất tích hoặc trốn thoát.
3. Khi pháp luật của Bên được yêu cầu quy định hoặc vì quyền lợi của quốc gia thứ ba, bất kỳ tài sản nào bị chuyển giao sẽ được hoàn trả lại miễn phí cho Bên được yêu cầu nếu Bên đó đề nghị.
4. Trường hợp các tài sản nêu trên cần thiết để phục vụ việc điều tra hoặc truy tố, xét xử người phạm tội ở Bên được yêu cầu, việc chuyển giao tài sản có thể trì hoãn cho đến khi kết thúc việc điều tra hoặc truy tố, xét xử, hoặc có thể chuyển giao với điều kiện sẽ phải trả lại sau khi kết thúc thủ tục tố tụng ở Bên yêu cầu.
ĐIỀU 16. HOÃN CHUYỂN GIAO VÀ CHUYỂN GIAO TẠM THỜI
1. Bên được yêu cầu có thể hoãn việc chuyển giao một người để tiến hành các thủ tục tố tụng đối với người đó hoặc để người đó có thể chấp hành hình phạt đối với một tội khác với tội bị yêu cầu dẫn độ. Trong trường hợp này, Bên được yêu cầu sẽ thông báo cho Bên yêu cầu.
2. Khi người bị yêu cầu dẫn độ đang thi hành hình phạt trong lãnh thổ của Bên được yêu cầu về một tội khác với tội bị yêu cầu dẫn độ, Bên được yêu cầu có thể chuyển giao tạm thời người đó cho Bên yêu cầu để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội bị yêu cầu dẫn độ. Người được chuyển giao đó sẽ được giam giữ trong lãnh thổ của Bên yêu cầu và phải được trao trả lại cho Bên được yêu cầu sau khi kết thúc các thủ tục tố tụng đối với người đó theo các Điều kiện mà hai Bên đã thỏa thuận bằng văn bản.
1. Một người bị dẫn độ theo Hiệp định này sẽ không bị giam giữ, truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án trên lãnh thổ của Bên yêu cầu vì bất kỳ tội phạm nào được thực hiện trước khi bị dẫn độ, trừ các trường hợp:
a) Tội phạm đó chính là tội phạm bị yêu cầu dẫn độ;
b) Bất kỳ tội bị dẫn độ nào có thể được xác định theo cùng các dấu hiệu khách quan của tội phạm và có thể bị áp dụng với cùng hình phạt hoặc hình phạt nhẹ hơn hình phạt của tội phạm đã được chấp nhận dẫn độ; hoặc
c) Bất kỳ tội có thể dẫn độ nào mà Bên được yêu cầu chấp thuận. Yêu cầu đề nghị chấp thuận sẽ kèm theo các tài liệu quy định tại Điều 8 Hiệp định này theo yêu cầu của Bên được yêu cầu, cũng như tài liệu hoặc văn bản của người bị dẫn độ có liên quan tới tội phạm.
2. Khoản 1 của Điều này không áp dụng trong trường hợp:
a) Người bị yêu cầu dẫn độ có khả năng rời khỏi lãnh thổ của Bên yêu cầu nhưng đã không rời khỏi trong thời hạn bốn mươi lăm (45) ngày kể từ ngày người đó được miền truy cứu trách nhiệm hình sự về tội bị yêu cầu dẫn độ; hoặc
b) Người đó tự nguyện quay trở lại lãnh thổ của Bên yêu cầu sau khi rời khỏi lãnh thổ của Bên yêu cầu.
ĐIỀU 18. CHUYỂN GIAO CHO NƯỚC THỨ BA
Bên yêu cầu sẽ không dẫn độ người bị yêu cầu dẫn độ cho bất kỳ nước thứ ba nào, trừ trường hợp:
a) Bên được yêu cầu chấp thuận với việc dẫn độ đó. Yêu cầu đề nghị chấp thuận, sẽ kèm theo các tài liệu quy định tại Điều 8 của Hiệp định này theo yêu cầu của Bên được yêu cầu, cũng như tài liệu hoặc văn bản của người bị dẫn độ có liên quan tới tội phạm.
b) Người đó có khả năng rời khỏi lãnh thổ của Bên yêu cầu nhưng không rời khỏi trong thời hạn bốn mươi lăm (45) ngày kể từ ngày người đó được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự về tội bị yêu cầu dẫn độ; hoặc
c) Người đó tự nguyện quay trở lại lãnh thổ của Bên yêu cầu sau khi rời khỏi lãnh thổ của Bên yêu cầu.
1. Trong phạm vi pháp luật của nước mình cho phép, việc quá cảnh người bị dẫn độ đến một Bên từ một nước thứ ba qua lãnh thổ của Bên đó sẽ được phép khi có văn bản yêu cầu gửi qua đường ngoại giao hoặc trực tiếp giữa các Cơ quan trung ương của các Bên và việc quá cảnh chỉ được thực hiện sau khi có văn bản chấp nhận việc quá cảnh đó.
2. Không phải xin phép quá cảnh trong trường hợp sử dụng đường hàng không và không dự định hạ cánh trên lãnh thổ của Bên quá cảnh. Nếu tiến hành hạ cánh không dự định trước trên lãnh thổ của Bên quá cảnh thì Bên này có thể yêu cầu Bên kia gửi yêu cầu xin quá cảnh theo quy định tại khoản 1 của Điều này.
3. Trên cơ sở nhận được đề nghị cho phép quá cảnh, Bên được yêu cầu sẽ chấp thuận trừ khi Bên này có những lý do hợp lý để từ chối việc quá cảnh.
4. Việc cho phép quá cảnh một người sẽ tuân theo pháp luật của Bên được yêu cầu, bao gồm cả việc cho phép giam giữ người đó trong thời gian quá cảnh.
5. Khi một người bị giam giữ theo khoản 4 Điều này, Bên mà người này bị giam giữ có thể ra lệnh trả tự do cho người này nếu việc chuyển giao không được tiếp tục trong thời gian hợp lý.
1. Các chi phí phát sinh từ việc dẫn độ cho đến khi chuyển giao người bị dẫn độ trên lãnh thổ của Bên được yêu cầu sẽ do Bên được yêu cầu chi trả.
2. Các chi phí phát sinh từ việc quá cảnh người bị dẫn độ trên lãnh thổ của Bên được yêu cầu sẽ do Bên yêu cầu chi trả.
3. Bên yêu cầu sẽ chịu các chi phí phát sinh trong áp giải người bị dẫn độ từ khi tiếp nhận người này trên lãnh thổ của Bên được yêu cầu.
4. Trong trường hợp phát sinh chi phí bất thường trong việc thực hiện yêu cầu dẫn độ, hai Bên sẽ thống nhất để xác định các chi phí và kiện cho việc chi trả chi phí này.
Hiệp định này có thể được sửa đổi, bổ sung theo văn bản thỏa thuận giữa hai Bên ký kết.
Bất kỳ sửa đổi, bổ sung nào sẽ tạo thành một phần của Hiệp định này.
22. PHÊ CHUẨN, HIỆU LỰC VÀ VIỆC CHẤM DỨT HIỆU LỰC CỦA HIỆP ĐỊNH
1. Hiệp định này phải được phê chuẩn, Hiệp định này sẽ có hiệu lực vào ngày thứ ba mươi (30) kể từ ngày nhận được văn kiện phê chuẩn sau cùng thông qua kênh ngoại giao.
2. Mỗi Bên có thể chấm dứt Hiệp định này vào bất kỳ thời điểm nào bằng việc gửi thông báo bằng văn bản cho Bên kia thông qua kênh ngoại giao. Việc chấm dứt sẽ có hiệu lực sau sáu (06) tháng kể từ ngày Bên ký kết kia nhận được thông báo đó. Việc chấm dứt Hiệp định sẽ không ảnh hưởng đến bất kỳ quá trình dẫn độ nào được bắt đầu trước khi chấm dứt Hiệp định.
ĐỂ LÀM BẰNG, những người ký tên dưới đây, được Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Căm-pu-chia ủy quyền đầy đủ, đã ký Hiệp định này.
Hiệp định này được làm tại Hà Nội vào ngày 26 tháng 12 năm 2013 thành hai bản gốc bằng tiếng Việt, tiếng Khơ-me và tiếng Anh; các bản đều có giá trị như nhau. Trong trường hợp có sự khác biệt trong giải thích Hiệp định thì sẽ căn cứ vào bản tiếng Anh.
| THAY MẶT | THAY MẶT |
- 1Thông báo hiệu lực của Hiệp định về dẫn độ giữa Việt Nam - Ấn Độ năm 2011
- 2Thông báo hiệu lực của Hiệp định về dẫn độ giữa Việt Nam và An-giê-ri
- 3Thông báo hiệu lực của Hiệp định về dẫn độ giữa Việt Nam và Ô-xtrây-lia
- 4Thông báo hiệu lực của Hiệp định về hợp tác trong lĩnh vực thú y và kiểm địch động vật giữa Việt Nam và I-xra-en
- 5Thông báo 17/2017/TB-LPQT hiệu lực Hiệp định về dẫn độ giữa Việt Nam - Tây Ban Nha
- 6Thông báo 33/2017/TB-LPQT hiệu lực Hiệp định về dẫn độ giữa Việt Nam và Hung-ga-ri
- 7Thông báo 02/2020/TB-LPQT hiệu lực của Hiệp định về dẫn độ giữa Việt Nam và Ca-dắc-xtan
- 8Thông báo 33/2020/TB-LPQT về hiệu lực của Hiệp định về dẫn độ giữa Việt Nam - Pháp
- 1Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế 2005
- 2Thông báo hiệu lực của Hiệp định về dẫn độ giữa Việt Nam - Ấn Độ năm 2011
- 3Thông báo hiệu lực của Hiệp định về dẫn độ giữa Việt Nam và An-giê-ri
- 4Thông báo hiệu lực của Hiệp định về dẫn độ giữa Việt Nam và Ô-xtrây-lia
- 5Thông báo hiệu lực của Hiệp định về hợp tác trong lĩnh vực thú y và kiểm địch động vật giữa Việt Nam và I-xra-en
- 6Thông báo 17/2017/TB-LPQT hiệu lực Hiệp định về dẫn độ giữa Việt Nam - Tây Ban Nha
- 7Thông báo 33/2017/TB-LPQT hiệu lực Hiệp định về dẫn độ giữa Việt Nam và Hung-ga-ri
- 8Thông báo 02/2020/TB-LPQT hiệu lực của Hiệp định về dẫn độ giữa Việt Nam và Ca-dắc-xtan
- 9Thông báo 33/2020/TB-LPQT về hiệu lực của Hiệp định về dẫn độ giữa Việt Nam - Pháp
Thông báo hiệu lực của Hiệp định về dẫn độ giữa Việt Nam và Cam-pu-chia
- Số hiệu: 71/2014/TB-LPQT
- Loại văn bản: Điều ước quốc tế
- Ngày ban hành: 23/12/2013
- Nơi ban hành: Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chính phủ Cam pu chia
- Người ký: Trần Đại Quang, Ang Vong Vathana
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Từ số 947 đến số 948
- Ngày hiệu lực: 09/10/2014
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
