Quyết định 09/QĐ-TCBH được ban hành năm 1992 bởi Bộ trưởng Bộ Tài chính, quy định về việc bảo hiểm hàng hoá vận chuyển trong lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Văn bản này cho phép Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam tiến hành nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá vận chuyển nội địa, đồng thời ban hành Quy tắc bảo hiểm kèm theo nhằm điều chỉnh các quan hệ bảo hiểm phát sinh trong quá trình vận chuyển hàng hóa.
- Phạm vi và đối tượng áp dụng
Quy tắc bảo hiểm này áp dụng đối với việc bảo hiểm hàng hoá vận chuyển bằng đường bộ, đường sắt và đường thuỷ trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Ngoài ra, quy tắc này cũng được vận dụng khi có thoả thuận riêng trong hợp đồng bảo hiểm đối với các trường hợp vận chuyển hàng hóa đặc thù khác.
- Các trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm
Trừ khi có thoả thuận khác bằng văn bản, người bảo hiểm sẽ không chịu trách nhiệm bồi thường đối với những mất mát, hư hỏng hoặc chi phí phát sinh do các nguyên nhân sau:
- Chiến tranh, nội chiến, cách mạng, khởi nghĩa, phản loạn, quần chúng nổi dậy, cướp, mìn, thuỷ lôi, bom hoặc các dụng cụ chiến tranh khác.
- Hậu quả trực tiếp hoặc gián tiếp của phóng xạ, nhiễm phóng xạ phát sinh từ việc sử dụng năng lượng nguyên tử, hạt nhân hoặc các phản ứng hạt nhân tương tự.
- Hành động xấu cố ý hoặc hành vi phạm pháp của chính người được bảo hiểm hoặc người làm công cho họ.
- Mất mát, hư hỏng hoặc chi phí do khuyết tật vốn có hoặc do tính chất đặc thù của loại hàng hoá được bảo hiểm.
- Xếp hàng quá tải hoặc không thực hiện đúng quy cách an toàn đối với các loại hàng hoá nguy hiểm.
- Đóng gói sai quy cách, bao bì không thích hợp hoặc hàng hoá đã bị hư hỏng từ trước khi xếp lên phương tiện vận chuyển.
- Hiện tượng rò chảy thông thường, hao hụt trọng lượng hoặc giảm thể tích tự nhiên của hàng hoá trong quá trình vận chuyển.
- Phương tiện vận chuyển không đủ khả năng lưu hành hoặc không bảo đảm an toàn giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy.
- Mất mát, hư hỏng hoặc chi phí có nguyên nhân trực tiếp từ sự chậm trễ, ngay cả khi sự chậm trễ đó do một rủi ro được bảo hiểm gây ra.
- Thời hạn và phạm vi trách nhiệm bảo hiểm
- Thời điểm bắt đầu và kết thúc: Trách nhiệm bảo hiểm phát sinh hiệu lực từ khi hàng hoá được xếp lên phương tiện chuyên chở tại địa điểm xuất phát ghi trong hợp đồng bảo hiểm để bắt đầu vận chuyển. Hiệu lực này được duy trì liên tục trong suốt quá trình vận chuyển bình thường và chấm dứt ngay khi hàng hoá được dỡ khỏi phương tiện chuyên chở tại nơi đến quy định trong hợp đồng.
- Trường hợp chuyển tải hoặc thay đổi hành trình: Nếu do các sự cố bất khả kháng buộc phải chuyển tải hoặc thay đổi hành trình, bảo hiểm vẫn giữ nguyên hiệu lực với điều kiện người được bảo hiểm phải thông báo ngay cho người bảo hiểm và nộp thêm phí bảo hiểm bổ sung nếu có yêu cầu.
- Thủ tục bảo hiểm, số tiền và giá trị bảo hiểm
- Thủ tục yêu cầu bảo hiểm: Người có nhu cầu bảo hiểm phải lập Giấy yêu cầu bảo hiểm với đầy đủ thông tin về: tên người được bảo hiểm; tên, quy cách đóng gói, ký mã hiệu hàng hóa; trọng lượng, số lượng và giá trị hàng hóa; hành trình vận chuyển; thông tin phương tiện vận tải; ngày khởi hành và ngày dự kiến đến. Người bảo hiểm sẽ căn cứ vào đây để cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm.
- Hiệu lực hợp đồng: Bảo hiểm chỉ chính thức có hiệu lực sau khi người được bảo hiểm đã thanh toán đầy đủ phí bảo hiểm cho người bảo hiểm. Mọi thay đổi thông tin sau khi ký hợp đồng phải được thông báo ngay để người bảo hiểm cấp giấy sửa đổi bổ sung.
- Hậu quả của việc khai báo sai: Nếu người được bảo hiểm cố ý khai báo sai hoặc giấu giếm thông tin quan trọng, người bảo hiểm có quyền miễn trách nhiệm bồi thường nhưng vẫn được quyền thu phí bảo hiểm.
- Chuyển nhượng giấy chứng nhận: Giấy chứng nhận bảo hiểm có thể được chuyển nhượng cho người khác thông qua hình thức ký hậu ở mặt sau bởi người được bảo hiểm hoặc đại diện hợp pháp của họ.
- Xác định số tiền bảo hiểm: Số tiền bảo hiểm dựa trên giá trị hàng hóa do người được bảo hiểm kê khai và được người bảo hiểm chấp thuận. Nếu không tự khai báo được, giá trị bảo hiểm được tính bằng giá tiền hàng trên hóa đơn cộng chi phí vận chuyển và phí bảo hiểm. Người được bảo hiểm có thể tính gộp cả tiền lãi ước tính nhưng không được vượt quá 10% giá trị bảo hiểm.
- Nghĩa vụ của người được bảo hiểm khi xảy ra tổn thất
Khi xảy ra sự cố gây tổn thất cho hàng hóa, người được bảo hiểm, người làm công hoặc đại diện của họ phải thực hiện các nghĩa vụ sau:
- Khai báo ngay với cơ quan chức trách địa phương để lập biên bản và xử lý theo quy định pháp luật.
- Thông báo ngay cho người bảo hiểm hoặc đại diện gần nhất của họ để tiến hành giám định tổn thất trong thời gian sớm nhất.
- Áp dụng mọi biện pháp cứu chữa, bảo quản cần thiết nhằm hạn chế tối đa mức độ tổn thất của hàng hóa.
- Thực hiện các thủ tục pháp lý cần thiết để bảo lưu quyền đòi bồi thường đối với người chuyên chở hoặc bên thứ ba có lỗi gây ra tai nạn.
- Lưu ý: Người bảo hiểm có quyền từ chối bồi thường một phần hoặc toàn bộ nếu người được bảo hiểm không thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ nêu trên.
- Hồ sơ khiếu nại bồi thường
Người được bảo hiểm phải cung cấp đầy đủ các chứng từ chứng minh thiệt hại bao gồm:
- Bản chính Giấy chứng nhận bảo hiểm.
- Bản chính hợp đồng vận chuyển hoặc giấy vận chuyển hàng hoá do chủ phương tiện cấp.
- Hoá đơn bán hàng, bản kê chi tiết hàng hoá, phiếu ghi trọng lượng và số lượng.
- Biên bản giám định hàng tổn thất ghi rõ mức độ thiệt hại.
- Biên bản điều tra tai nạn của cơ quan chức trách địa phương.
- Văn bản khiếu nại người chuyên chở hoặc bên thứ ba và thư đòi bồi thường.
- Phân loại và xác định tổn thất
- Tổn thất toàn bộ thực tế: Xảy ra khi hàng hoá bị phá huỷ hoàn toàn, bị hư hỏng nghiêm trọng không còn tính chất ban đầu, hoặc người được bảo hiểm bị mất hẳn quyền sở hữu đối với hàng hoá đó. Trường hợp phương tiện vận chuyển bị mất tích (không có tin tức sau ít nhất 3 tháng kể từ ngày dự kiến đến) cũng được coi là tổn thất toàn bộ thực tế.
- Tổn thất toàn bộ ước tính: Xảy ra khi hàng hoá bị thiệt hại mà xét thấy không thể tránh khỏi tổn thất toàn bộ thực tế, hoặc chi phí cứu hàng, chỉnh lý, gửi hàng đến nơi nhận vượt quá giá trị của hàng hoá tại nơi đến.
- Tổn thất bộ phận: Là bất kỳ sự mất mát, hư hỏng nào không thuộc hai trường hợp tổn thất toàn bộ nêu trên.
- Nguyên tắc tính toán và thanh toán bồi thường
- Cách tính bồi thường tổn thất bộ phận: Số tiền bồi thường được tính bằng mức độ tổn thất nhân với số tiền bảo hiểm. Mức độ tổn thất được xác định bằng tỷ lệ chênh lệch giữa giá trị hàng nguyên vẹn và giá trị hàng tổn thất tại cảng dỡ hàng chia cho giá trị hàng nguyên vẹn.
- Giới hạn trách nhiệm: Trách nhiệm tối đa của người bảo hiểm là số tiền bảo hiểm. Nếu số tiền bảo hiểm thấp hơn giá trị thực tế của hàng hóa, người bảo hiểm sẽ bồi thường theo tỷ lệ giữa số tiền bảo hiểm và giá trị bảo hiểm. Phần số tiền bảo hiểm vượt quá giá trị thực tế của hàng hóa sẽ không được thừa nhận.
- Thời hạn giải quyết bồi thường: Người bảo hiểm phải thanh toán bồi thường trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ khiếu nại hợp lệ. Trường hợp hồ sơ chưa hợp lệ hoặc cần xác minh, người bảo hiểm phải thông báo bằng văn bản trong vòng 15 ngày. Nếu quá 30 ngày kể từ ngày thông báo bồi thường hoặc từ chối bồi thường mà người được bảo hiểm không có ý kiến bằng văn bản thì vụ việc coi như kết thúc.
- Xử lý hàng hóa tìm lại được: Trong trường hợp phương tiện mất tích hoặc hàng hóa bị mất đã được bồi thường tổn thất toàn bộ nhưng sau đó lại tìm thấy, số hàng hóa đó sẽ thuộc quyền sở hữu của người bảo hiểm.
- Chuyển quyền đòi bồi thường (Thế quyền) và từ bỏ hàng hóa
- Thế quyền đòi bên thứ ba: Sau khi bồi thường, người bảo hiểm được quyền thay thế người được bảo hiểm để đòi bên thứ ba có lỗi gây ra tổn thất trong phạm vi số tiền đã bồi thường. Người được bảo hiểm phải chuyển giao đầy đủ chứng từ và quyền khiếu nại cho người bảo hiểm. Nếu người được bảo hiểm tự ý từ bỏ quyền đòi bên thứ ba hoặc làm mất quyền này do lỗi của mình, người bảo hiểm sẽ được giảm trừ số tiền bồi thường tương ứng hoặc yêu cầu hoàn trả lại tiền bồi thường đã nhận.
- Thu hồi xác hàng: Khi bồi thường tổn thất toàn bộ, người bảo hiểm có quyền thu hồi những gì còn lại của lô hàng đã được bồi thường.
- Thủ tục từ bỏ hàng hóa: Để khiếu nại tổn thất toàn bộ ước tính, người được bảo hiểm phải gửi thông báo từ bỏ hàng bằng văn bản không điều kiện cho người bảo hiểm. Nếu không thực hiện đúng thủ tục này, vụ việc chỉ được giải quyết theo hình thức tổn thất bộ phận. Việc người bảo hiểm từ chối chấp nhận từ bỏ hàng không làm ảnh hưởng đến quyền khiếu nại của người được bảo hiểm. Một khi thông báo từ bỏ hàng đã được chấp nhận thì không thể thay đổi.
- Thời hiệu khiếu nại và giải quyết tranh chấp
- Thời hiệu khiếu nại: Quyền đòi bồi thường của người được bảo hiểm đối với người bảo hiểm sẽ hết hiệu lực sau 1 năm kể từ ngày phát sinh quyền đó.
- Giải quyết tranh chấp: Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm trước hết phải được giải quyết thông qua thương lượng. Nếu không thương lượng được, vụ việc sẽ được chuyển cho Toà án hoặc Trọng tài kinh tế Nhà nước xét xử theo quy định của pháp luật Việt Nam.
- Hiệu lực thi hành
Quyết định 09/QĐ-TCBH năm 1992 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Tổng Giám đốc Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam, Giám đốc Sở Tài chính các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương và các đơn vị liên quan chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 09/QĐ-TCBH | Hà Nội , ngày 09 tháng 1 năm 1992 |
QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC TRIỂN KHAI BẢO HIỂM HÀNG HOÁ VẬN CHUYỂN TRONG LÃNH THỔ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH
Căn cứ Nghị định số 155-HĐBT ngày 15-10-1988 của Hội đồng Bộ trưởng quy định chức năng nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Bộ Tài chính; Căn cứ Quyết định số 45-QĐTC ngày 2-3-1989 của Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Điều lệ về tổ chức và hoạt động của Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam;
Theo đề nghị của Tổng Giám đốc Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam,
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1. Cho phép Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam tiến hành nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá vận chuyển trong lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.
Điều 3. Tổng Giám đốc Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam, Giám đốc Sở Tài chính các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương và các đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
|
| Phạm Văn Trọng (Đã Ký) |
QUY TẮC
BẢO HIỂM HÀNG HOÁ VẬN CHUYỂN TRONG LÃNH THỔ VIỆT NAM
Chương 1:
NGUYÊN TẮC CHUNG
Điều 1. Quy tắc chung này áp dụng cho việc bảo hiểm hàng hoá vận chuyển bằng đường bộ, đường sắt và đường thuỷ thuộc phạm vi lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Điều 2. Quy tắc này còn được vận dụng khi có thoả thuận riêng trong hợp đồng bảo hiểm cho việc bảo hiểm hàng hoá vận chuyển từ Việt Nam đi các nước lân cận và vận chuyển từ nước ngoài về được phép quá cảnh qua Việt Nam để sang các nước lân cận bằng các phương tiện vận tải nói trên.
Chương 2:
PHẠM VI BẢO HIỂM
Điều 3. Trừ những trường hợp quy định loại trừ ở chương III dưới đây, Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam (gọi tắt là người bảo hiểm) chịu trách nhiệm đối với những mất mát, hư hỏng xảy ra cho hàng hoá được bảo hiểm do hậu quả, trực tiếp của một trong những nguyên nhân sau đây:
1. Cháy hoặc nổ.
2. Động đất, bão lụt, gió lốc, sóng thần và sét đánh.
3. Phương tiện vận chuyển bị đắm, bị lật đổ, bị rơi, mắc cạn, đâm va nhau hoặc đâm va vào vật thể khác hay bị trật bánh.
4. Cây gẫy đổ, cầu cống, đường hầm và các công trình kiến thức khác bị sập đổ.
5. Phương tiện chở hàng mất tích.
Điều 4. Trường hợp xảy ra tổn thất thuộc phạm vi trách nhiệm người bảo hiểm như nói trên, người bảo hiểm còn phải chịu trách nhiệm đối với những chi phí sau đây:
a. Những chi phí hợp lý do người được bảo hiểm, người làm công hay đại lý của họ đã chi ra nhằm phòng tránh hoặc giảm nhẹ tổn thất cho hàng hoá được bảo hiểm.
b. Những chi phí hợp lý cho việc dỡ hàng, lưu kho và gửi tiếp hàng hoá được bảo hiểm tại một nơi dọc đường đi do hậu quả của rủi ro thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm.
c. Những chi phí hợp lý cho việc giám định và xác định số tổn thất thuộc trách nhiệm bảo hiểm.
Chương 3:
ĐIỀU KHOẢN LOẠI TRỪ BẢO HIỂM
Điều 5. Trừ khi có thoả thuận khác, người bảo hiểm sẽ không chịu trách nhiệm đối với những mất mát, hư hỏng hay chi phí gây ra bởi:
1. Chiến tranh, nội chiến, cách mạng, khởi nghĩa, phản loạn hoặc quần chúng nổi dậy, cướp, mìn, thuỷ lôi, bom hoặc các dụng cụ chiến tranh khác.
2. Hậu quả trực tiếp hay gián tiếp của phóng xạ hay nhiễm phóng xạ phát sinh từ việc sử dụng năng lượng nguyên tử, hạt nhân và hoặc phản ứng hạt nhân, phóng xạ tương tự.
3. Hành động xấu, cố ý hay hành vi phạm pháp của người được bảo hiểm hay người làm công cho họ.
4. Những mất mát, hư hỏng hay chi phí do khuyết tật vốn có hoặc do tính chất đặc thù của loại hàng hoá được bảo hiểm.
5. Xếp hàng quá tải hoặc sai quy cách an toàn về hàng hoá nguy hiểm.
6. Đóng gói sai quy cách, bao bì không thích hợp hoặc hàng bị hỏng từ trước khi xếp lên phương tiện vận chuyển.
7. Rò chảy thông thường, hao hụt trọng lượng hay giảm thể tích thông thường của hàng hoá được bảo hiểm trong quá trình vận chuyển.
8. Phương tiện vận chuyển không đủ khả năng lưu hành, không đảm bảo an toàn giao thông.
9. Những mất mát, hư hỏng hay chi phí có nguyên nhân trực tiếp do chậm trễ, dù chậm trễ đó do một rủi ro được bảo hiểm.
Chương 4:
BẮT ĐẦU VÀ KẾT THÚC TRÁCH NHIỆM BẢO HIỂM
Điều 6. Trách nhiệm bảo hiểm bắt đầu có hiệu lực từ khi hàng hoá được bảo hiểm được xếp lên phương tiện chuyên chở tại địa điểm xuất phát ghi trong hợp đồng bảo hiểm để bắt đầu vận chuyển, tiếp tục có hiệu lực trong suốt quá trình vận chuyển bình thường và kết thúc vào lúc hàng hoá được dỡ khỏi phương tiện chuyên chở tại nơi đến ghi trong hợp đồng bảo hiểm.
Điều 7. Trong quá trình vận chuyển nói trên nếu vì những sự cố nói ở Điều 3 mà háng hoá bắt buộc phải chuyển tải hoặc thay đổi hành trình thì bảo hiểm này vẫn giữ nguyên hiệu lực với điều kiện người được bảo hiểm phải thông báo ngay cho người bảo hiểm biết về việc xảy ra hoặc thay đổi đó và phải trả thêm phí bảo hiểm trong trường hợp cần thiết.
Chương 5:
THỦ TỤC BẢO HIỂM, SỐ TIỀN BẢO HIỂM VÀ GIÁ TRỊ BẢO HIỂM
Điều 8.
1. Khi có nhu cầu bảo hiểm, người có nhu cầu phải làm giấy yêu cầu trong đó ghi rõ:
a. Tên người được bảo hiểm.
b. Tên hàng hoá, loại bao bì, cách đóng gói và ký mã hiệu của hàng hoá được bảo hiểm.
c. Trọng lượng, số lượng hàng hoá và giá trị hàng hoá được bảo hiểm.
d. Hành trình vận chuyển (nơi đi - nơi đến và nơi chuyển tải nếu có).
đ. Tên chủ phương tiện, loại phương tiện và số đăng ký của các phương tiện vận tải đó.
e. Ngày, tháng phương tiện vận chuyển khởi hành và dự kiến ngày đến.
2. Người bảo hiểm sẽ căn cứ vào giấy yêu cầu bảo hiểm để cấp "Giấy chứng nhận bảo hiểm".
3. Người được bảo hiểm phải thanh toán phí bảo hiểm cho người bảo hiểm ngay khi nhận được giấy chứng nhận bảo hiểm. Bảo hiểm chỉ có hiệu lực khi đã nộp phí bảo hiểm.
4. Nếu sau khi hợp đồng bảo hiểm được ký kết mà có bất kỳ thay đổi nào về những thông tin đã cung cấp liên quan đến lô hàng hoá được bảo hiểm thì người được bảo hiểm có trách nhiệm thông báo cho người bảo hiểm biết ngay khi họ được biết sự thay đổi đó.
Khi nhận được thông báo này, người bảo hiểm sẽ cấp giấy sửa đổi bổ sung và có thể yêu cầu người được bảo hiểm trả thêm phí bảo hiểm.
Điều 9. Nếu người được bảo hiểm khai báo sai hoặc giấu giếm những điểm đề ra trong giấy yêu cầu bảo hiểm hay những sự việc thay đổi sẽ được thông báo cho người bảo hiểm, thì người bảo hiểm được miễn trách nhiệm đã quy định trong hợp đồng bảo hiểm mà vẫn có quyền nhận phí bảo hiểm.
Điều 10. Giấy chứng nhận bảo hiểm có thể được chuyển nhượng cho một người khác sau khi người được bảo hiểm hay đại diện có thẩm quyền của họ ký ở mặt sau giấy chứng nhận bảo hiểm.
Điều 11. Số tiền bảo hiểm của hàng hoá được bảo hiểm phải là giá trị của hàng hoá do người được bảo hiểm kê khai và được người bảo hiểm chấp nhận.
Nếu người được bảo hiểm không khai báo được số tiền bảo hiểm thì có thể áp dụng cách tính giá trị bảo hiểm như sau: Giá trị bảo hiểm bao gồm giá tiền hàng ghi trên hoá đơn cộng chi phí vận chuyển và phí bảo hiểm.
Trừ khi có thoả thuận khác, trong số tiền khai báo, người được bảo hiểm có thể tính gộp cả tiền lãi ước tính. Tuy nhiên tiền lãi này không được vượt quá 10% giá trị bảo hiểm.
Chương 6:
NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI ĐƯỢC BẢO HIỂM KHI XẢY RA TỔN THẤT
Điều 12. Trường hợp xảy ra tổn thất cho hàng hoá thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm như trong Điều 3, người được bảo hiểm hay người làm công cho họ hoặc đại diện của họ phải:
a. Khai báo ngay với cơ quan chức trách địa phương để xử lý và lập biên bản theo luật lệ hiện hành.
b. Thông báo ngay cho người bảo hiểm hay đại diện của họ tại địa phương gần nhất đến giám định trong thời gian sớm nhất.
c. Phải áp dụng mọi biện pháp cần thiết để cứu chữa và bảo quản hàng hoá nhằm hạn chế tổn thất.
d. Làm các thủ tục cần thiết để bảo lưu quyền đòi bồi thường đối với người chuyên chở hay người thứ ba khác có trách nhiệm đối với tổn thất, mất mát hàng hoá trong tai nạn ấy.
Người bảo hiểm có quyền từ chối giải quyết bồi thường một phần hay toàn bộ tổn thất nếu người được bảo hiểm không thi hành đầy đủ những nghĩa vụ trên.
Điều 13. Khi khiếu nại người bảo hiểm về những mất mát hư hỏng thuộc trách nhiệm hợp đồng bảo hiểm, người được bảo hiểm cần nộp đủ những giấy tờ chứng minh:
1. Bản chính "Giấy chứng nhận bảo hiểm".
2. Bản chính hợp đồng vận chuyển, giấy vận chuyển hàng hoá do chủ phương tiện cấp.
3. Hoá đơn bán hàng kèm theo bản kê chi tiết hàng hoá, phiếu ghi trọng lượng và số lượng hàng hoá.
4. Biên bản giám định hàng tổn thất ghi rõ mức độ tổn thất.
5. Biên bản điều tra tai nạn của cơ quan chức trách địa phương.
6. Văn bản khiếu nại, người chuyên chở hay người thứ ba khác về trách nhiệm đối với tổn thất do họ gây ra.
7. Thư đòi bồi thường.
Chương 7:
XÁC ĐỊNH TỔN THẤT
Điều 14.
1. Tổn thất toàn bộ nói trong Quy tắc này bao gồm tổn thất toàn bộ ước tính và tổn thất toàn bộ thực tế.
2. Khi xảy ra mất mát, hư hỏng thuộc phạm vi trách nhiệm hợp đồng bảo hiểm, nếu hàng hoá được bảo hiểm bị phá huỷ hoàn toàn hay bị hư hỏng nghiêm trọng tới mức không còn là vật phẩm với tính chất ban đầu của nó nữa hoặc người được bảo hiểm bị mất hẳn quyền sở hữu hàng hoá thì được coi là tổn thất toàn bộ thực tế.
3. Khi hàng hoá được bảo hiểm bị mất mát hay hư hỏng thuộc phạm vi trách nhiệm hợp đồng bảo hiểm, nếu xét thấy không tránh khỏi tổn thất toàn bộ thực tế hoặc do các chi phí cứu hàng chi phí chỉnh lý và gửi hàng đến nơi nhận ghi trong hợp đồng bảo hiểm có thể vượt quá giá trị hàng khi tới nơi nhận đó thì được coi là tổn thất toàn bộ ước tính.
4. Bất kỳ trường hợp mất mát hay hư hỏng nào không thuộc loại tổn thất đã nói ở hai phần trên đều được coi là tổn thất bộ phận.
Điều 15. Nếu phương tiện chở hàng bị mất tích thì hàng hoá được bảo hiểm sẽ được coi là tổn thất toàn bộ thực tế.
Phương tiện vận chuyển hàng được coi là mất tích khi không tới được nơi đến ghi trong hợp đồng bảo hiểm và cũng không có tin tức gì về phương tiện đó. Thời gian cần thiết để xác định việc phương tiện chuyên chở bị mất tích không ít hơn 3 tháng kể từ ngày dự tính phương tiện chuyên chở đến nơi ghi trong hợp đồng bảo hiểm.
Chương 8:
CÁCH TÍNH VÀ THANH TOÁN BỒI THƯỜNG
Điều 16. Khi hàng hoá bảo hiểm bị tổn thất bộ phận thì số tiền bồi thường sẽ được tính trên cơ sở mức độ tổn thất nhân với số tiền bảo hiểm. Mức độ tổn thất sẽ được xác định bằng cách lấy số chênh lệch giữa tổng giá trị hàng khi còn nguyên vẹn và khi bị tổn thất tại cảng dỡ hàng chia cho tổng giá trị hàng khi còn nguyên vẹn tại cảng dỡ hàng.
Điều 17. Trách nhiệm của người bảo hiểm chỉ giới hạn ở số tiền bảo hiểm.
- Nếu số tiền bảo hiểm của hàng hoá thấp hơn giá trị bảo hiểm thì người bảo hiểm chỉ bồi thường những mất mát, hư hỏng và các chi phí như đã quy định ở Điều 3 và 4 chương II theo tỷ lệ giữa số tiền bảo hiểm và giá trị bảo hiểm.
- Nếu số tiền bảo hiểm của hàng hoá cao hơn giá trị bảo hiểm thì phần cao hơn đó không được thừa nhận.
Điều 18. Người bảo hiểm có quyền được miễn trách nhiệm quy định trong hợp đồng bảo hiểm bằng cách khước từ quyền lợi về hàng hoá bảo hiểm và quyền khiếu nại người thứ ba, đồng thời bồi thường cho người được bảo hiểm toàn bộ số tiền bảo hiểm.
Điều 19. Trường hợp phải tuân thủ ý kiến của người bảo hiểm để thực hiện các biện pháp đề phòng tổn thất thì người bảo hiểm phải thanh toán cho người được bảo hiểm những chi phí hợp lý và cần thiết khi áp dụng biện pháp này dù cho tổng số tiền bồi thường như vậy có thể vượt quá số tiền bảo hiểm.
Điều 20.
1. Sau khi kiểm tra và xác nhận hồ sơ khiếu nại của người được bảo hiểm là hợp lệ và tổn thất thuộc trách nhiệm bảo hiểm, người bảo hiểm sẽ thanh toán bồi thường cho người được bảo hiểm trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ khi khiếu nại hợp lệ.
- Trường hợp hồ sơ khiếu nại gửi đến chưa hợp lệ hoặc cần xác minh thêm hoặc tổn thất không thuộc trách nhiệm bảo hiểm thì người bảo hiểm phải thông báo bằng văn bản cho người được bảo hiểm biết trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ khiếu nại.
- Trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận được giấy thông báo bồi thường hoặc giấy từ chối bồi thường mà người được bảo hiểm không có ý kiến gì bằng văn bản thì vụ khiếu nại đó coi như đã kết thúc.
2. Khi thanh toán tiền bồi thường, người bảo hiểm có thể khấu trừ vào tiền bồi thường các khoản thu nhập của người được bảo hiểm trong việc bán hàng hoá cứu được và đòi người thứ ba.
3. Trong trường hợp phương tiện vận chuyển bị mất tích, hàng hoá đã được coi là tổn thất toàn bộ hoặc hàng bị mất mà sau khi đã bồi thường lại tìm thấy hàng thì số hàng đó sẽ thuộc quyền sở hữu của người bảo hiểm và được xử lý theo chế độ hiện hành của Nhà nước.
Chương 9:
CHUYỂN QUYỀN ĐÒI BỒI THƯỜNG VÀ VIỆC TỪ BỎ HÀNG HOÁ
Điều 21.
1. Sau khi thanh toán bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm, mọi khoản khiếu nại và quyền khiếu nại của người được bảo hiểm đối với người thứ ba đều được chuyển cho người bảo hiểm mà giới hạn là số tiền đã bồi thường.
Ngay khi nhận được tiền bồi thường, người được bảo hiểm có trách nhiệm chuyển cho người bảo hiểm quyền đòi người thứ ba bồi thường và các chứng từ cần thiết liên quan đến việc đó.
2. Nếu người được bảo hiểm bỏ qua quyền đòi người thứ ba, hoặc nếu do lỗi của họ mà không thể thực hiện được quyền này (như hết hạn gửi thư khiếu nại người chịu trách nhiệm về tổn thất v.v...) thì người bảo hiểm sẽ được miễn trách nhiệm bồi thường với một mức độ thích hợp và nếu việc bồi thường của bảo hiểm đã được giải quyết thì người được bảo hiểm có nghĩa vụ hoàn lại cho người bảo hiểm một phần hoặc toàn bộ số tiền bồi thường mà họ đã nhận được, tuỳ theo từng trường hợp cụ thể.
Điều 22. Sau khi người bảo hiểm bồi thường một vụ tổn thất toàn bộ (có thể bồi thường tất cả hoặc nguyên một phần hàng được bảo hiểm) họ còn có quyền thu hồi những gì còn lại của phần hàng hoá đã được bồi thường theo quy định hiện hành của Nhà nước.
Điều 23.
1. Trường hợp người được bảo hiểm muốn khiếu nại tổn thất toàn bộ ước tính cho hàng hoá được bảo hiểm thì họ phải gửi thông báo từ bỏ hàng cho người bảo hiểm. Nếu không thực hiện theo quy định này thì tổn thất chỉ được giải quyết theo hình thức bồi thường tổn thất bộ phận.
2. Thông báo từ bỏ hàng phải làm bằng văn bản mà trong mọi trường hợp phải cho biết ý định của người được bảo hiểm là từ bỏ không điều kiện mọi quyền lợi về hàng hoá được bảo hiểm cho người bảo hiểm.
3. Trường hợp thông báo từ bỏ hàng được gửi theo đúng quy định thì quyền khiếu nại của người được bảo hiểm không bị phương hại bởi việc người bảo hiểm từ chối chấp nhận từ bỏ hàng. Khi thông báo từ bỏ hàng đã được chấp nhận thì việc từ bỏ hàng không còn thay đổi khác được.
Chương 10:
THỜI HIỆU KHIẾU NẠI VÀ XỬ LÝ TRANH CHẤP
Điều 24. Quyền đòi bồi thường của người được bảo hiểm sẽ hết hiệu lực sau 1 năm kể từ ngày phát sinh quyền đó.
Điều 25. Bất kỳ mọi vụ tranh chấp nào có liên quan đến hợp đồng bảo hiểm nếu không giải quyết được bằng hình thức thương lượng giữa người được bảo hiểm và người bảo hiểm thì tuỳ từng trường hợp cụ thể chuyển cho Toà án hoặc Trọng tài kinh tế Nhà nước xét xử theo luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Quyết định 09/QĐ-TCBH năm 1992 về bảo hiểm hàng hoá vận chuyển trong lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
- Số hiệu: 09/QĐ-TCBH
- Loại văn bản: Quyết định
- Ngày ban hành: 09/01/1992
- Nơi ban hành: Bộ Tài chính
- Người ký: Phạm Văn Trọng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 09/01/1992
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
