Tóm tắt Quyết định 02/2025/QĐ-UBND tỉnh Quảng Nam về khôi phục tình trạng ban đầu của đất do vi phạm hủy hoại đất
Quyết định số 02/2025/QĐ-UBND được Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam ban hành nhằm quy định chi tiết các trường hợp không có tính khả thi để khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm và mức độ khôi phục lại tình trạng ban đầu đối với hành vi vi phạm hủy hoại đất trên địa bàn tỉnh. Quyết định này chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20 tháng 01 năm 2025 và thay thế hoàn toàn Quyết định số 01/2024/QĐ-UBND ngày 08 tháng 01 năm 2024 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam.
- Quy định về mức độ khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất đối với hành vi hủy hoại đất (Điều 5)
Đối với các hành vi hủy hoại đất không thuộc trường hợp bất khả thi để khôi phục, mức độ và biện pháp khôi phục được quy định cụ thể cho từng nhóm hành vi vi phạm như sau:
- Hành vi làm suy giảm chất lượng đất (theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP):
- Làm mất hoặc giảm độ dày tầng đất canh tác: Buộc phải áp dụng các biện pháp kỹ thuật hoặc các biện pháp phù hợp khác để khôi phục lại độ dày tầng đất canh tác tương đương hoặc đúng như tình trạng ban đầu trước khi xảy ra hành vi vi phạm.
- Làm thay đổi lớp mặt của đất sản xuất nông nghiệp: Đối với các hành vi đưa vật liệu, chất thải, đất lẫn cát, sỏi, đá hoặc các loại đất có thành phần khác vào lớp đất mặt, người vi phạm buộc phải thực hiện bóc tách, loại bỏ hoàn toàn các tác nhân này ra khỏi lớp mặt để khôi phục lại hiện trạng ban đầu của đất sản xuất nông nghiệp.
- Gây bạc màu, xói mòn, rửa trôi đất nông nghiệp: Khi hành vi dẫn đến việc mất hoặc giảm khả năng sử dụng đất theo mục đích đã xác định, buộc phải áp dụng các biện pháp kỹ thuật để cải tạo, khôi phục lại chất lượng đất và khả năng sử dụng đất như trước khi vi phạm.
- Hành vi làm biến dạng địa hình đất (theo quy định tại khoản 2 Điều 14 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP):
- Làm thay đổi độ dốc hoặc hạ thấp bề mặt đất: Buộc phải áp dụng các biện pháp kỹ thuật để san lấp, bù đắp, đưa diện tích đất bị tác động trở lại độ cao và độ dốc ban đầu hoặc tương đương trước khi vi phạm.
- San lấp đất có mặt nước chuyên dùng: Ngoại trừ đối tượng là hồ thủy lợi, các hành vi san lấp đất có mặt nước chuyên dùng khác đều buộc phải áp dụng biện pháp khôi phục lại hiện trạng mặt nước ban đầu.
- San lấp nâng cao hoặc hạ thấp bề mặt đất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản: Áp dụng đối với các hành vi làm mất hoặc giảm khả năng sử dụng đất theo mục đích đã xác định (trừ các trường hợp được phép chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên đất trồng lúa, cải tạo đất thành ruộng bậc thang hoặc các hình thức cải tạo phù hợp với dự án đầu tư đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt). Người vi phạm buộc phải đưa bề mặt đất trở lại cao độ ban đầu.
- Yêu cầu kỹ thuật và an toàn trong quá trình khôi phục: Các biện pháp kỹ thuật hoặc biện pháp khác được áp dụng để khôi phục đất phải đảm bảo tuyệt đối không gây ảnh hưởng xấu đến môi trường xung quanh, không làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của các thửa đất liền kề. Đồng thời, phải tuân thủ nghiêm ngặt quy định của Luật Đất đai và pháp luật liên quan; nghiêm cấm mọi hành vi lợi dụng việc khôi phục đất để thực hiện các hoạt động trái pháp luật khác.
- Trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính (Điều 6)
Để đảm bảo tính thực thi và minh bạch trong việc xử lý vi phạm, quy định nêu rõ trách nhiệm của người có thẩm quyền lập biên bản như sau:
- Xác định tính khả thi của việc khôi phục: Người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính có trách nhiệm chủ trì, căn cứ vào hồ sơ vụ việc cụ thể, lấy ý kiến trực tiếp của người vi phạm, ý kiến của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất và các cơ quan, đơn vị liên quan để xác định trường hợp vi phạm đó có khả thi để khôi phục lại tình trạng ban đầu hay không. Kết quả xác định này phải được lập thành biên bản cụ thể và là một thành phần bắt buộc trong hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính.
- Kiểm tra và xác nhận kết quả khôi phục: Cơ quan, người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan tiến hành kiểm tra thực tế và xác nhận kết quả mức độ khôi phục, cũng như các biện pháp khôi phục tình trạng ban đầu của đất mà đối tượng vi phạm đã thực hiện.
- Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong tổ chức thực hiện (Điều 7)
Công tác tổ chức thực hiện và giải quyết vướng mắc được phân công cụ thể:
- Phổ biến và thực hiện quy định: Ủy ban nhân dân các cấp (tỉnh, huyện, xã), các Sở, Ban, ngành và các tổ chức, đoàn thể có liên quan theo chức năng, nhiệm vụ được giao có trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến rộng rãi và tổ chức thực hiện nghiêm túc các nội dung của Quy định này.
- Giải quyết khó khăn, vướng mắc phát sinh: Trong quá trình triển khai thực hiện, nếu phát hiện các khó khăn, vướng mắc hoặc bất cập, các cơ quan, đơn vị, địa phương và cá nhân có liên quan phải kịp thời phản ánh bằng văn bản về Sở Tài nguyên và Môi trường. Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm tổng hợp các kiến nghị này để báo cáo, tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định việc sửa đổi, bổ sung Quy định cho phù hợp với thực tế.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| ỦY BAN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 02/2025/QĐ-UBND | Quảng Nam, ngày 06 tháng 01 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
BAN HÀNH QUY ĐỊNH CÁC TRƯỜNG HỢP KHÔNG CÓ TÍNH KHẢ THI ĐỂ KHÔI PHỤC LẠI TÌNH TRẠNG BAN ĐẦU CỦA ĐẤT TRƯỚC KHI VI PHẠM VÀ MỨC ĐỘ KHÔI PHỤC LẠI TÌNH TRẠNG BAN ĐẦU CỦA ĐẤT ĐỐI VỚI HÀNH VI VI PHẠM HỦY HOẠI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19 tháng 6 năm 2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 22 tháng 11 năm 2019;
Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22 tháng 6 năm 2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 18 tháng 6 năm 2020;
Căn cứ Luật Đất đai ngày 18 tháng 01 năm 2024; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai số 31/2024/QH15, Luật Nhà ở số 27/2023/QH15, Luật Kinh doanh bất động sản số 29/2023/QH15 và Luật Các tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15 ngày 29 tháng 6 năm 2024;
Căn cứ Luật Xử lý vi phạm hành chính ngày 20 tháng 6 năm 2012; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính ngày 13 tháng 11 năm 2020;
Căn cứ khoản 5 Điều 14 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tại Tờ trình số 526/TTr-STNMT ngày 31 tháng 12 năm 2024.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy định các trường hợp không có tính khả thi để khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm và mức độ khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất đối với hành vi vi phạm hủy hoại đất trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20 tháng 01 năm 2025 và thay thế Quyết định số 01/2024/QĐ-UBND ngày 08 tháng 01 năm 2024 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam ban hành Quy định về mức độ khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 5 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 11 năm 2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
Điều 3. Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh; Thủ trưởng các sở, ban, ngành thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn và các tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
| TM. ỦY BAN NHÂN DÂN |
QUY ĐỊNH
CÁC TRƯỜNG HỢP KHÔNG CÓ TÍNH KHẢ THI ĐỂ KHÔI PHỤC LẠI TÌNH TRẠNG BAN ĐẦU CỦA ĐẤT TRƯỚC KHI VI PHẠM VÀ MỨC ĐỘ KHÔI PHỤC LẠI TÌNH TRẠNG BAN ĐẦU CỦA ĐẤT ĐỐI VỚI HÀNH VI VI PHẠM HỦY HOẠI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM
(Ban hành kèm theo Quyết định số 02/2025/QĐ-UBND Ngày 06 tháng 01 năm 2025 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam)
Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Quy định này quy định các trường hợp vi phạm mà việc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất không có tính khả thi trên thực địa và mức độ khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất đối với các hành vi vi phạm hủy hoại đất trên địa bàn tỉnh Quảng Nam quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 14 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
Điều 2. Đối tượng áp dụng
1. Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 14 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Chính phủ xảy ra trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác, gồm:
a) Cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam, cá nhân nước ngoài, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài;
b) Hộ gia đình, cộng đồng dân cư;
c) Tổ chức trong nước, tổ chức nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc.
2. Cơ quan, người có thẩm quyền xử phạt và tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai theo quy định của pháp luật.
Điều 3. Giải thích từ ngữ
1. Mức độ khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm là việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật hoặc các biện pháp khác để khôi phục hoặc đưa diện tích đất bị vi phạm trở lại tình trạng ban đầu hoặc tương đương tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm.
2. Trường hợp không có tính khả thi để khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất là việc không thể sử dụng các biện pháp kỹ thuật hoặc các biện pháp khác để khôi phục hoặc đưa diện tích đất bị vi phạm trở lại tình trạng ban đầu hoặc tương đương tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm.
Chương II
QUY ĐỊNH CÁC TRƯỜNG HỢP KHÔNG CÓ TÍNH KHẢ THI ĐỂ KHÔI PHỤC LẠI TÌNH TRẠNG BAN ĐẦU CỦA ĐẤT TRƯỚC KHI VI PHẠM VÀ MỨC ĐỘ KHÔI PHỤC LẠI TÌNH TRẠNG BAN ĐẦU CỦA ĐẤT ĐỐI VỚI HÀNH VI VI PHẠM HỦY HOẠI ĐẤT
Điều 4. Các trường hợp không có tính khả thi để khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm đối với hành vi hủy hoại đất
1. Đối với các hành vi làm suy giảm chất lượng đất quy định tại khoản 1 Điều 14 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Chính phủ:
a) Đối với hành vi làm mất hoặc giảm độ dày tầng đất đang canh tác: Trường hợp được xác định là không thể sử dụng các biện pháp kỹ thuật hoặc các biện pháp khác để khôi phục lại tầng đất canh tác như tình trạng ban đầu hoặc tương đương tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm;
b) Đối với hành vi làm thay đổi lớp mặt của đất sản xuất nông nghiệp bằng các loại vật liệu, chất thải hoặc đất lẫn cát, sỏi, đá hay loại đất có thành phần khác với loại đất đang sử dụng: Trường hợp được xác định là không thể sử dụng các biện pháp kỹ thuật hoặc các biện pháp khác để bóc tách, loại bỏ các loại vật liệu, chất thải hoặc đất lẫn cát, sỏi, đá hay các thành phần khác với loại đất đang sử dụng để đưa diện tích đất bị vi phạm trở lại tình trạng ban đầu hoặc tương đương tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm;
c) Đối với hành vi gây bạc màu, gây xói mòn, rửa trôi đất nông nghiệp mà dẫn đến làm mất hoặc giảm khả năng sử dụng đất đã được xác định: Trường hợp được xác định là không thể sử dụng các biện pháp kỹ thuật hoặc các biện pháp khác để khôi phục lại chất lượng, khôi phục lại tình trạng ban đầu hoặc tương đương tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm.
2. Đối với các hành vi làm biến dạng địa hình đất quy định tại khoản 2 Điều 14 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Chính phủ:
a) Đối với hành vi làm thay đổi độ dốc bề mặt đất; hạ thấp bề mặt đất: Trường hợp được xác định là không thể sử dụng các biện pháp kỹ thuật hoặc các biện pháp khác để hoàn trả, khôi phục độ dốc bề mặt đất như tình trạng ban đầu hoặc tương đương tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm;
b) Đối với hành vi san lấp đất có mặt nước chuyên dùng (trừ hồ thủy lợi): Trường hợp được xác định không thể sử dụng các biện pháp kỹ thuật hoặc các biện pháp khác để đưa diện tích đất bị vi phạm trở lại tình trạng ban đầu hoặc tương đương tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm;
c) Đối với hành vi san lấp nâng cao, hạ thấp bề mặt của đất sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản mà làm mất hoặc giảm khả năng sử dụng đất theo mục đích đã được xác định (trừ trường hợp chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên đất trồng lúa sang trồng lúa kết hợp nuôi trồng thủy sản, xây dựng công trình phục vụ trực tiếp sản xuất nông nghiệp trên đất trồng lúa, cải tạo đất nông nghiệp thành ruộng bậc thang và hình thức cải tạo đất khác phù hợp với mục đích sử dụng đất được giao, được thuê, được công nhận quyền sử dụng đất hoặc phù hợp với dự án đầu tư đã được Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất phê duyệt hoặc chấp thuận): Trường hợp được xác định là không thể sử dụng các biện pháp kỹ thuật hoặc các biện pháp khác để đưa bề mặt của diện tích đất bị vi phạm trở lại tình trạng ban đầu hoặc tương đương tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm.
Điều 5. Mức độ khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm đối với hành vi hủy hoại đất (không thuộc các trường hợp tại Điều 4 của Quy định này)
1. Đối với các hành vi làm suy giảm chất lượng đất quy định tại khoản 1 Điều 14 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Chính phủ:
a) Đối với hành vi làm mất hoặc giảm độ dày tầng đất canh tác thì buộc sử dụng các biện pháp kỹ thuật hoặc các biện pháp khác để khôi phục độ dày tầng đất canh tác như tình trạng ban đầu hoặc tương đương tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm;
b) Đối với hành vi làm thay đổi lớp mặt của đất sản xuất nông nghiệp bằng các loại vật liệu, chất thải hoặc đất lẫn cát, sỏi, đá hay loại đất có thành phần khác với loại đất đang sử dụng thì buộc sử dụng các biện pháp kỹ thuật hoặc các biện pháp khác để loại bỏ, bóc tách các loại vật liệu, chất thải hoặc đất lẫn cát, sỏi, đá hay loại đất có thành phần khác ra khỏi lớp mặt của đất sản xuất nông nghiệp, đảm bảo khôi phục lớp mặt của đất sản xuất nông nghiệp như tình trạng ban đầu hoặc tương đương tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm;
c) Đối với hành vi gây bạc màu, gây xói mòn, rửa trôi đất nông nghiệp mà dẫn đến làm mất hoặc giảm khả năng sử dụng đất đã được xác định thì buộc sử dụng các biện pháp kỹ thuật hoặc các biện pháp khác để khôi phục lại chất lượng, khôi phục lại tình trạng ban đầu hoặc tương đương tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm.
2. Đối với các hành vi làm biến dạng địa hình đất quy định tại khoản 2 Điều 14 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP ngày 04/10/2024 của Chính phủ:
a) Đối với hành vi làm thay đổi độ dốc bề mặt đất; hạ thấp bề mặt đất làm cho bề mặt đất thấp hơn so với hiện trạng ban đầu thì buộc sử dụng các biện pháp kỹ thuật hoặc các biện pháp khác để đưa diện tích đất bị vi phạm trở lại tình trạng ban đầu hoặc tương đương tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm;
b) Đối với hành vi san lấp đất có mặt nước chuyên dùng (trừ hồ thủy lợi) thì buộc sử dụng các biện pháp kỹ thuật hoặc các biện pháp khác để đưa diện tích đất vi phạm trở lại tình trạng ban đầu hoặc tương đương tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm;
c) Đối với hành vi san lấp nâng cao, hạ thấp bề mặt của đất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản mà làm mất hoặc giảm khả năng sử dụng đất theo mục đích đã được xác định (trừ trường hợp chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên đất trồng lúa sang trồng lúa kết hợp nuôi trồng thủy sản, xây dựng công trình phục vụ trực tiếp sản xuất nông nghiệp trên đất trồng lúa, cải tạo đất nông nghiệp thành ruộng bậc thang và hình thức cải tạo đất khác phù hợp với mục đích sử dụng đất được giao, được thuê, được công nhận quyền sử dụng đất hoặc phù hợp với dự án đầu tư đã được Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất phê duyệt hoặc chấp thuận) thì buộc sử dụng các biện pháp kỹ thuật hoặc các biện pháp khác để đưa bề mặt của diện tích đất bị vi phạm trở lại tình trạng ban đầu hoặc tương đương tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm.
3. Biện pháp kỹ thuật hoặc biện pháp khác để khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này phải đảm bảo không gây ảnh hưởng đến môi trường xung quanh và việc sử dụng đất của các thửa đất liền kề, đồng thời phải tuân thủ đúng quy định của Luật Đất đai và các quy định pháp luật khác có liên quan, nghiêm cấm lợi dụng việc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất để thực hiện các hành vi trái pháp luật.
Chương III
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Điều 6. Trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính
1. Người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính có trách nhiệm xác định các trường hợp không có tính khả thi để khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trên cơ sở căn cứ hồ sơ vụ việc, ý kiến của người vi phạm, ý kiến của Ủy ban nhân dân cấp xã, các cơ quan, đơn vị khác có liên quan. Việc xác định được lập thành biên bản, được xem là thành phần của hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính.
2. Cơ quan, người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính có trách nhiệm chủ trì phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan tổ chức kiểm tra, xác nhận kết quả mức độ khôi phục, biện pháp khôi phục tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm, các trường hợp không có tính khả thi để khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm theo Quy định này.
Điều 7. Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan
1. Ủy ban nhân dân các cấp và các Sở, Ban, ngành, tổ chức, đoàn thể có liên quan theo chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm phổ biến, thực hiện nội dung Quy định này.
2. Trong quá trình triển khai thực hiện Quy định này, nếu có khó khăn, vướng mắc, bất cập phát sinh thì các cơ quan, đơn vị, địa phương và các tổ chức, cá nhân có liên quan kịp thời phản ánh về Sở Tài nguyên và Môi trường để tổng hợp, báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp./.
- 1Quyết định 01/2024/QĐ-UBND về Quy định mức độ khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm theo quy định tại Điểm a Khoản 3 Điều 5 Nghị định 91/2019/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
- 2Quyết định 45/2024/QĐ-UBND quy định trường hợp không có tính khả thi để khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm và mức độ khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất đối với hành vi vi phạm hủy hoại đất trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
- 3Quyết định 55/2024/QĐ-UBND về Quy định các trường hợp không có tính khả thi để khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm và mức độ khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất đối với hành vi vi phạm hủy hoại đất trên địa bàn tỉnh Cao Bằng
- 4Quyết định 44/2024/QĐ-UBND về Quy định trường hợp không có tính khả thi để khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm và mức độ khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất đối với hành vi vi phạm hủy hoại đất trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa
Quyết định 02/2025/QĐ-UBND quy định trường hợp không có tính khả thi để khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm và mức độ khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất đối với hành vi vi phạm hủy hoại đất trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
- Số hiệu: 02/2025/QĐ-UBND
- Loại văn bản: Quyết định
- Ngày ban hành: 06/01/2025
- Nơi ban hành: Tỉnh Quảng Nam
- Người ký: Lê Văn Dũng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 20/01/2025
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
