Nghị quyết 82/2014/QH13 được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 24 tháng 11 năm 2014, quy định chi tiết về việc thi hành Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014. Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm sự chuyển tiếp thông suốt, phân định rõ lộ trình thực hiện các quy định mới về tổ chức bộ máy, thẩm quyền và nhân sự của Viện kiểm sát nhân dân các cấp.
Công tác chuẩn bị và chuyển tiếp nhân sự từ ngày 01/02/2015 đến ngày 01/06/2015
Trong giai đoạn chuẩn bị trước khi Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 chính thức có hiệu lực đầy đủ, Nghị quyết quy định rõ trách nhiệm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và lộ trình sắp xếp nhân sự như sau:
- Chuẩn bị điều kiện hoạt động: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm rà soát, chuẩn bị toàn diện về tổ chức bộ máy, cán bộ, cơ sở vật chất và các điều kiện cần thiết khác để bảo đảm hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân các cấp theo luật mới.
- Giải quyết chuyển tiếp đối với Kiểm sát viên:
- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao hết nhiệm kỳ được tiếp tục thực hiện nhiệm vụ cho đến khi được xem xét, bổ nhiệm lại hoặc bổ nhiệm làm Kiểm sát viên cao cấp.
- Kiểm sát viên trung cấp và sơ cấp hết nhiệm kỳ tiếp tục thực hiện nhiệm vụ cho đến khi được xem xét, bổ nhiệm lại; thời hạn hoàn thành việc bổ nhiệm lại phải trước ngày 30 tháng 9 năm 2015.
- Thành lập Viện kiểm sát nhân dân cấp cao: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định thành lập các Viện kiểm sát nhân dân cấp cao và phê chuẩn bộ máy làm việc của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
- Bổ nhiệm Kiểm sát viên cao cấp và tối cao: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Chủ tịch nước bổ nhiệm các Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao mới. Đồng thời, quyết định bổ nhiệm làm Kiểm sát viên cao cấp đối với các Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao được bổ nhiệm trước ngày 01 tháng 6 năm 2015 nhưng không được bổ nhiệm làm Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo luật mới.
Quy định áp dụng kể từ ngày 01/06/2015
Kể từ ngày 01 tháng 6 năm 2015, hệ thống Viện kiểm sát nhân dân vận hành theo mô hình mới với các quy định cụ thể về thẩm quyền, chuyển giao nhiệm vụ và chế độ chính sách:
- Lộ trình thực hiện các thẩm quyền mới: Các nhiệm vụ, quyền hạn mới của Viện kiểm sát nhân dân và thẩm quyền của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương sẽ được thực hiện sau khi Bộ luật tố tụng hình sự sửa đổi và Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự mới được thông qua và có hiệu lực. Trong thời gian chuyển tiếp, các cơ quan này tiếp tục thực hiện nhiệm vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự hiện hành.
- Chuyển giao thẩm quyền cho Viện kiểm sát nhân dân cấp cao:
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao chuyển giao nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm cho Viện kiểm sát nhân dân cấp cao.
- Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh chuyển giao nhiệm vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm cho Viện kiểm sát nhân dân cấp cao.
- Nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao:
- Thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp đối với các vụ án, vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp cao.
- Thực hành quyền công tố, kiểm sát giải quyết theo thủ tục phúc thẩm đối với các bản án, quyết định chưa có hiệu lực của Tòa án nhân dân cấp tỉnh có kháng cáo, kháng nghị chưa được giải quyết.
- Thực hành quyền công tố, kiểm sát giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện và cấp tỉnh có kháng nghị chưa được giải quyết.
- Giải quyết kiến nghị, đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện và cấp tỉnh đã được Viện kiểm sát cấp tỉnh hoặc tối cao thụ lý nhưng chưa giải quyết.
- Thẩm quyền kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao: Có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực của Tòa án nhân dân cấp tỉnh; kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án nhân dân cấp huyện và cấp tỉnh trong phạm vi thẩm quyền lãnh thổ.
- Chính sách nhân sự và tiền lương:
- Kiểm sát viên trung cấp, sơ cấp còn nhiệm kỳ tiếp tục thực hiện nhiệm vụ cho đến hết nhiệm kỳ.
- Kiểm sát viên cao cấp được bổ nhiệm chuyển tiếp khi được xem xét bổ nhiệm làm Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao sẽ không bị áp dụng điều kiện về thời gian giữ ngạch quy định tại điểm a khoản 1 Điều 80 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân.
- Lương và phụ cấp của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Kiểm sát viên cao cấp được áp dụng tương đương với mức lương, phụ cấp của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo quy định hiện hành cho đến khi có chế độ tiền lương mới.
Trách nhiệm thi hành và rà soát hệ thống văn bản pháp luật
Để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, Nghị quyết quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan liên quan:
- Rà soát văn bản quy phạm pháp luật: Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì hoặc phối hợp với các cơ quan hữu quan tiến hành rà soát toàn bộ các văn bản pháp luật liên quan đến Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân để chủ động hủy bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản mới theo thẩm quyền; đồng thời kiến nghị Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ sửa đổi các văn bản cho phù hợp.
- Trách nhiệm tổ chức thực hiện: Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình chịu trách nhiệm thi hành nghiêm túc Nghị quyết này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| QUỐC HỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Nghị quyết số: 82/2014/QH13 | Hà Nội, ngày 24 tháng 11 năm 2014 |
QUỐC HỘI
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
QUYẾT NGHỊ:
Điều 1.
Kể từ ngày 01 tháng 02 năm 2015 đến ngày 01 tháng 6 năm 2015:
1. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm rà soát, chuẩn bị về tổ chức bộ máy, cán bộ, cơ sở vật chất và các điều kiện khác để bảo đảm hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân các cấp theo quy định của Luật này;
2. Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao hết nhiệm kỳ tiếp tục thực hiện nhiệm vụ cho đến khi được xem xét, bổ nhiệm theo quy định tại khoản 5 Điều này;
3. Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp hết nhiệm kỳ tiếp tục thực hiện nhiệm vụ cho đến khi được xem xét, bổ nhiệm lại theo quy định của Luật này; việc xem xét, bổ nhiệm lại các Kiểm sát viên này phải thực hiện xong trước ngày 30 tháng 9 năm 2015;
4. Căn cứ Điều 40, Điều 49 và khoản 3 Điều 63 của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định thành lập các Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, phê chuẩn bộ máy làm việc của Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
5. Căn cứ khoản 4 và khoản 5 Điều 63, Điều 74, Điều 76, điểm b và điểm c khoản 1 Điều 79, điểm b và điểm c khoản 1 Điều 80, khoản 1 Điều 93 của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm:
a) Xem xét, quyết định đề nghị Chủ tịch nước bổ nhiệm các Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
b) Xem xét, quyết định bổ nhiệm làm Kiểm sát viên cao cấp đối với các Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao được bổ nhiệm trước ngày 01 tháng 6 năm 2015 mà không được bổ nhiệm làm Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân.
Điều 2.
Kể từ ngày 01 tháng 6 năm 2015:
1. Những nhiệm vụ, quyền hạn mới của Viện kiểm sát nhân dân quy định tại các điểm b, c, e và g khoản 3 Điều 3, khoản 4 Điều 12 và thẩm quyền của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương quy định tại Điều 20 của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân được thực hiện sau khi Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành được sửa đổi, bổ sung và luật về tổ chức cơ quan điều tra hình sự được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành quy định những nhiệm vụ, quyền hạn này thống nhất với Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân.
Trong thời gian Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành chưa được sửa đổi, bổ sung, luật về tổ chức cơ quan điều tra hình sự chưa được Quốc hội thông qua và chưa có hiệu lực thi hành thì Viện kiểm sát nhân dân, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương tiếp tục thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự hiện hành;
2. Viện kiểm sát nhân dân tối cao chuyển giao nhiệm vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử phúc thẩm cho Viện kiểm sát nhân dân cấp cao.
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh chuyển giao nhiệm vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm cho Viện kiểm sát nhân dân cấp cao;
3. Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp đối với các vụ án, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp cao;
b) Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã có kháng cáo, kháng nghị mà chưa được giải quyết;
c) Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương, Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã có kháng nghị mà chưa được giải quyết;
d) Giải quyết kiến nghị, đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương, Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã được Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thụ lý mà chưa được giải quyết;
4. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương, Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong phạm vi lãnh thổ thuộc thẩm quyền;
5. Kiểm sát viên cao cấp được bổ nhiệm theo quy định tại
6. Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp còn nhiệm kỳ tiếp tục thực hiện nhiệm vụ cho đến hết nhiệm kỳ theo quyết định bổ nhiệm;
7. Lương và phụ cấp của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm sát viên cao cấp được thực hiện tương ứng với lương và phụ cấp của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo quy định pháp luật hiện hành cho đến khi có chế độ lương và phụ cấp mới.
Điều 3.
1. Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, tự mình hoặc phối hợp với các cơ quan hữu quan rà soát các văn bản pháp luật có liên quan đến Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân để hủy bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản mới theo thẩm quyền; đề nghị Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan hữu quan hủy bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản mới phù hợp với Luật này.
2. Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thi hành Nghị quyết này.
Nghị quyết này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 24 tháng 11 năm 2014.
| CHỦ TỊCH QUỐC HỘI |
- 1Nghị quyết về việc quy định một số điểm về việc thi hành Luật Tổ chức Toà án nhân dân do Quốc hội ban hành
- 2Nghị quyết số 56/2002/QH10 về việc thi hành Luật Tổ chức Toán án nhân dân và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân do Quốc Hội ban hành
- 3Nghị quyết 81/2014/QH13 thi hành Luật tổ chức Tòa án nhân dân 2014 do Quốc hội ban hành
- 4Chỉ thị 04/2014/CT-CA về triển khai thi hành Luật tổ chức Tòa án nhân dân do Tòa án nhân dân tối cao ban hành
- 1Nghị quyết về việc quy định một số điểm về việc thi hành Luật Tổ chức Toà án nhân dân do Quốc hội ban hành
- 2Nghị quyết số 56/2002/QH10 về việc thi hành Luật Tổ chức Toán án nhân dân và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân do Quốc Hội ban hành
- 3Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003
- 4Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004
- 5Hiến pháp 2013
- 6Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014
- 7Nghị quyết 81/2014/QH13 thi hành Luật tổ chức Tòa án nhân dân 2014 do Quốc hội ban hành
- 8Chỉ thị 04/2014/CT-CA về triển khai thi hành Luật tổ chức Tòa án nhân dân do Tòa án nhân dân tối cao ban hành
Nghị quyết 82/2014/QH13 về thi hành Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014 do Quốc hội ban hành
- Số hiệu: 82/2014/QH13
- Loại văn bản: Nghị quyết
- Ngày ban hành: 24/11/2014
- Nơi ban hành: Quốc hội
- Người ký: Nguyễn Sinh Hùng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Từ số 43 đến số 44
- Ngày hiệu lực: 24/11/2014
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
