Nghị định 141/2018/NĐ-CP được ban hành bởi Chính phủ nhằm sửa đổi, bổ sung các quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp. Văn bản này tập trung điều chỉnh các chế tài xử phạt đối với hành vi bán hàng đa cấp bất chính và các vi phạm hành chính liên quan đến hoạt động thương mại đa cấp, nhằm thắt chặt quản lý nhà nước, lành mạnh hóa thị trường và bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng cũng như người tham gia mạng lưới.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Nghị định này áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp; các thương nhân tổ chức hoạt động bán hàng đa cấp; người tham gia bán hàng đa cấp; và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có thẩm quyền và liên quan đến việc quản lý, xử lý vi phạm trong lĩnh vực này trên lãnh thổ Việt Nam.
Xử phạt hành vi bán hàng đa cấp bất chính đối với tổ chức
Nghị định sửa đổi Điều 36 Nghị định số 71/2014/NĐ-CP, quy định mức phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với tổ chức thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau:
- Yêu cầu người khác phải đặt cọc hoặc nộp một khoản tiền nhất định, hoặc yêu cầu mua một số lượng hàng hóa nhất định để được ký hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp.
- Cho người tham gia nhận tiền hoặc lợi ích kinh tế khác từ việc giới thiệu người khác tham gia vào hoạt động bán hàng đa cấp mà không phải từ việc mua, bán hàng hóa của người được giới thiệu đó.
- Từ chối chi trả không có lý do chính đáng các khoản hoa hồng, tiền thưởng hay lợi ích kinh tế khác mà người tham gia có quyền hưởng.
- Cung cấp thông tin gian dối về kế hoạch trả thưởng, về lợi ích của việc tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp.
- Cung cấp thông tin gian dối, gây nhầm lẫn về tính năng, công dụng của hàng hóa hoặc hoạt động của doanh nghiệp thông qua báo cáo viên, đào tạo viên tại các hội nghị, hội thảo, đào tạo hoặc thông qua tài liệu của doanh nghiệp.
- Không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ mua lại hàng hóa theo quy định của pháp luật.
Đối với hành vi vi phạm nêu trên, nếu được thực hiện trên địa bàn từ hai tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên, mức phạt tiền sẽ tăng gấp hai lần. Ngoài ra, tổ chức vi phạm còn có thể bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả như buộc cải chính công khai thông tin sai lệch, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm và tịch thu khoản lợi nhuận thu được từ hành vi vi phạm.
Xử phạt đối với cá nhân tham gia bán hàng đa cấp
Nghị định sửa đổi Điều 92 Nghị định số 185/2013/NĐ-CP, phân loại chi tiết các mức phạt đối với cá nhân tham gia bán hàng đa cấp tùy theo tính chất và mức độ vi phạm:
- Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng: Áp dụng đối với hành vi thực hiện các hoạt động tiếp thị, bán hàng và phát triển mạng lưới khi chưa được cấp Thẻ thành viên hoặc không xuất trình Thẻ thành viên trước khi giới thiệu, tiếp thị, bán hàng.
- Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng: Áp dụng đối với hành vi không tuân thủ hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp và quy tắc hoạt động của doanh nghiệp, hoặc tham gia bán hàng đa cấp khi không đủ điều kiện theo quy định.
- Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng: Áp dụng đối với hành vi hoạt động bán hàng đa cấp tại địa phương nơi doanh nghiệp chưa được cấp xác nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp.
- Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng: Áp dụng đối với các hành vi như yêu cầu người khác đặt cọc hoặc nộp tiền để ký hợp đồng; cung cấp thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn về sản phẩm, kế hoạch trả thưởng, quy tắc hoạt động; tự ý tổ chức hội thảo, hội nghị, đào tạo khi chưa được doanh nghiệp ủy quyền bằng văn bản; lôi kéo, dụ dỗ, mua chuộc người tham gia của doanh nghiệp khác; lợi dụng chức vụ, quyền hạn, địa vị xã hội để lôi kéo người khác tham gia mạng lưới.
- Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng: Áp dụng đối với cá nhân tham gia vào hoạt động của tổ chức, cá nhân kinh doanh theo phương thức đa cấp chưa được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động.
- Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng: Áp dụng đối với cá nhân tổ chức hội nghị, hội thảo, đào tạo, giới thiệu về hoạt động kinh doanh đa cấp của mình hoặc tổ chức, cá nhân khác khi chưa được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động.
- Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng: Áp dụng đối với cá nhân kinh doanh theo phương thức đa cấp khi chưa được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động mà thu lợi bất chính đến dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho người khác đến dưới 500.000.000 đồng.
Xử phạt đối với thương nhân kinh doanh theo phương thức đa cấp
Nghị định quy định các khung phạt tiền nghiêm khắc đối với thương nhân (doanh nghiệp) có hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động kinh doanh đa cấp:
- Phạt tiền từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng: Áp dụng đối với các vi phạm về thủ tục hành chính và vận hành nội bộ như không thực hiện đúng thủ tục sửa đổi, bổ sung, cấp lại giấy chứng nhận; ký hợp đồng với người không đủ điều kiện hoặc hợp đồng thiếu nội dung cơ bản; không chấm dứt hợp đồng với người tham gia bị xử phạt về hành vi bị cấm; vi phạm quy định về lập, cập nhật, công bố danh sách đào tạo viên; không niêm yết công khai tài liệu hoạt động và hàng hóa; không xây dựng, công bố hoặc không tuân thủ giá bán; không giám sát hoạt động của người tham gia; không thực hiện đúng thủ tục đăng ký hoạt động tại địa phương; không thông báo hủy hội thảo; không điều chỉnh văn bản ký quỹ hoặc chậm gia hạn giấy chứng nhận.
- Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng: Áp dụng đối với các vi phạm về tổ chức hoạt động và nghĩa vụ tài chính như hoạt động tại địa phương khi chưa có xác nhận bằng văn bản của Sở Công Thương; không duy trì người đại diện tại địa phương; không lưu trữ, xuất trình hồ sơ tài liệu theo yêu cầu; không thông báo tổ chức hội thảo từ 30 người trở lên (hoặc từ 10 người tham gia trở lên); chi trả tổng hoa hồng, tiền thưởng vượt quá 40% doanh thu trong năm; không thanh toán hoa hồng bằng chuyển khoản qua ngân hàng; không thực hiện nghĩa vụ báo cáo; không ký hợp đồng bằng văn bản; không đào tạo cơ bản hoặc thu phí đào tạo, phí cấp thẻ thành viên; chỉ định đào tạo viên không đủ điều kiện; không thực hiện đúng quy tắc hoạt động, kế hoạch trả thưởng; không xuất hóa đơn theo từng giao dịch; không vận hành hệ thống công nghệ thông tin quản lý mạng lưới, trang thông tin điện tử hoặc hệ thống tiếp nhận khiếu nại; không cung cấp quyền truy cập hệ thống quản lý cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng: Áp dụng đối với các hành vi vi phạm nghiêm trọng mang tính hệ thống như duy trì nhiều hơn một hợp đồng/mã số đối với cùng một người tham gia; thực hiện khuyến mại đa cấp nhiều nhánh; tổ chức trung gian thương mại để phát triển mạng lưới; ép buộc người tham gia từ bỏ quyền lợi pháp lý; không sử dụng hệ thống quản lý đã đăng ký; mua bán, chuyển giao mạng lưới người tham gia (trừ trường hợp sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp); kinh doanh đa cấp khi chưa được cấp giấy chứng nhận thu lợi bất chính dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại dưới 500.000.000 đồng; kinh doanh đối tượng không được phép theo phương thức đa cấp.
Thương nhân thực hiện các hành vi vi phạm nghiêm trọng (thuộc khung phạt từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng) trên phạm vi từ hai tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên sẽ bị áp dụng mức phạt tiền gấp hai lần.
Biện pháp khắc phục hậu quả và cơ chế phối hợp xử lý
Bên cạnh hình thức phạt tiền, Nghị định quy định các biện pháp khắc phục hậu quả nghiêm ngặt nhằm triệt tiêu động cơ trục lợi và khắc phục triệt để sai phạm:
- Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được từ các hành vi vi phạm như thu phí đào tạo, phí cấp thẻ thành viên, mua bán mạng lưới, hoặc kinh doanh không phép.
- Buộc cải chính thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn đã cung cấp cho người tham gia hoặc người tiêu dùng.
- Người có thẩm quyền xử phạt khi phát hiện các hành vi vi phạm của thương nhân có trách nhiệm thông báo cho cơ quan cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp để xem xét, áp dụng biện pháp thu hồi giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật.
Hiệu lực thi hành và điều khoản chuyển tiếp
Nghị định 141/2018/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25 tháng 11 năm 2018.
Về điều khoản chuyển tiếp, đối với các hành vi vi phạm xảy ra trước ngày Nghị định này có hiệu lực nhưng sau đó mới bị phát hiện hoặc đang trong quá trình xem xét, giải quyết: Nếu Nghị định này không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn so với các quy định trước đây thì sẽ áp dụng các quy định của Nghị định này để giải quyết.
Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 141/2018/NĐ-CP | Hà Nội, ngày 08 tháng 10 năm 2018 |
Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 6 năm 2015;
Căn cứ Luật cạnh tranh ngày 03 tháng 12 năm 2004;
Căn cứ Luật xử lý vi phạm hành chính ngày 20 tháng 6 năm 2012;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công Thương;
Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp.
Điều 1. Sửa đổi một số điều của Nghị định số 71/2014/NĐ-CP ngày 21 tháng 7 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết Luật cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh (sau đây gọi tắt là Nghị định số 71/2014/NĐ-CP) và Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 124/2015/NĐ-CP ngày 19 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (sau đây gọi tắt là Nghị định số 185/2013/NĐ-CP)
1. Điều 36 Nghị định số 71/2014/NĐ-CP được sửa đổi như sau:
“Điều 36. Hành vi bán hàng đa cấp bất chính
g) Không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ mua lại hàng hóa theo quy định của pháp luật.
a) Buộc cải chính công khai đối với hành vi tại điểm đ, điểm e khoản 1 Điều này;
4. Người có thẩm quyền xử phạt khi xử phạt đối với các hành vi quy định tại khoản 9 Điều này có trách nhiệm thông báo cho cơ quan cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp để xem xét áp dụng biện pháp thu hồi giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp theo quy định của pháp luật.”
2. Điều 92 Nghị định số 185/2013/NĐ-CP được sửa đổi như sau:
“Điều 92. Hành vi vi phạm trong hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp
b) Không xuất trình Thẻ thành viên trước khi giới thiệu hoặc tiếp thị, bán hàng.
a) Không tuân thủ hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp và quy tắc hoạt động của doanh nghiệp;
b) Tham gia bán hàng đa cấp khi không đủ điều kiện tham gia bán hàng đa cấp theo quy định.
o) Không thực hiện đúng quy tắc hoạt động, kế hoạch trả thưởng đã đăng ký;
12. Biện pháp khắc phục hậu quả
13. Người có thẩm quyền xử phạt khi xử phạt đối với các hành vi quy định tại khoản 9 Điều này có trách nhiệm thông báo cho cơ quan cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp để xem xét áp dụng biện pháp thu hồi giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp theo quy định của pháp luật.”
1. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25 tháng 11 năm 2018.
2. Áp dụng các quy định của Nghị định này để xử lý đối với các hành vi vi phạm xảy ra trước ngày Nghị định này có hiệu lực như sau:
Trong trường hợp Nghị định này không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi vi phạm trước ngày Nghị định này có hiệu lực mà sau đó mới bị phát hiện hoặc đang xem xét, giải quyết thì áp dụng Nghị định này.
Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các tổ chức, cá nhân liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.
|
| TM. CHÍNH PHỦ |
- 1Chỉ thị 30/CT-TTg năm 2016 về tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 2Công văn số 790/QLCT-P5 năm 2017 trả lời công văn số 2130/TCT-CS về chính sách thuế đối với hoạt động bán hàng đa cấp do Cục Quản lý cạnh tranh ban hành
- 3Công văn 3634/TCT-CS năm 2017 về chính sách thuế đối với hoạt động bán hàng đa cấp do Tổng cục Thuế ban hành
- 4Nghị định 98/2020/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
- 5Dự thảo Nghị định quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh
- 6Công văn 4488/BCT-CT năm 2020 về tăng cường đấu tranh ngăn chặn, phòng ngừa hoạt động kinh doanh đa cấp trái phép do Bộ Công thương ban hành
- 1Nghị định 185/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
- 2Nghị định 71/2014/NĐ-CP hướng dẫn Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh
- 3Nghị định 124/2015/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 185/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
- 4Nghị định 98/2020/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
- 5Văn bản hợp nhất 01/VBHN-BCT năm 2019 hợp nhất Nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng do Bộ Công thương ban hành
- 6Văn bản hợp nhất 06/VBHN-BCT năm 2019 hợp nhất Nghị định hướng dẫn Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh do Bộ Công Thương ban hành
- 1Luật cạnh tranh 2004
- 2Luật xử lý vi phạm hành chính 2012
- 3Luật tổ chức Chính phủ 2015
- 4Chỉ thị 30/CT-TTg năm 2016 về tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 5Công văn số 790/QLCT-P5 năm 2017 trả lời công văn số 2130/TCT-CS về chính sách thuế đối với hoạt động bán hàng đa cấp do Cục Quản lý cạnh tranh ban hành
- 6Công văn 3634/TCT-CS năm 2017 về chính sách thuế đối với hoạt động bán hàng đa cấp do Tổng cục Thuế ban hành
- 7Công văn 551/CP-KTTH năm 2018 đính chính Nghị định 141/2018/NĐ-CP do Chính phủ ban hành
- 8Dự thảo Nghị định quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh
- 9Công văn 4488/BCT-CT năm 2020 về tăng cường đấu tranh ngăn chặn, phòng ngừa hoạt động kinh doanh đa cấp trái phép do Bộ Công thương ban hành
Nghị định 141/2018/NĐ-CP sửa đổi các Nghị định quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp
- Số hiệu: 141/2018/NĐ-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 08/10/2018
- Nơi ban hành: Chính phủ
- Người ký: Nguyễn Xuân Phúc
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Từ số 983 đến số 984
- Ngày hiệu lực: 25/11/2018
- Ngày hết hiệu lực: 15/10/2020
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
