Hiệp định về quy chế biên giới giữa Việt Nam và Cam-pu-chia ký ngày 20 tháng 7 năm 1983 tại Nông Pênh là văn bản pháp lý quan trọng nhằm thiết lập trật tự, an ninh biên giới, đồng thời thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác và tạo điều kiện thuận lợi cho đời sống của nhân dân vùng biên giới hai nước. Dưới đây là tóm tắt chi tiết và chuyên sâu toàn bộ nội dung của Hiệp định này.
1. Xác định, tôn trọng đường biên giới và thiết lập khu vực biên giới (Điều 1 - Điều 3)
- Xác định đường biên giới: Cho đến khi được hoạch định chính thức, biên giới quốc gia giữa Việt Nam và Cam-pu-chia là đường biên giới hiện đại được thể hiện trên bản đồ tỷ lệ 1/100.000 của Sở Địa dư Đông Dương (Service Géographique de l’Indochine) thông dụng trước hoặc gần năm 1954 nhất, theo quy định tại Hiệp ước về nguyên tắc giải quyết vấn đề biên giới ký ngày 20 tháng 7 năm 1983.
- Tôn trọng và bảo vệ biên giới: Hai bên cam kết tôn trọng tuyệt đối đường biên giới quốc gia và bảo vệ các mốc giới. Mọi hành vi tự ý xê dịch hoặc làm hư hại mốc giới đều bị nghiêm cấm.
- Thành lập khu vực biên giới: Mỗi bên thành lập một khu vực biên giới bao gồm các xã hoặc đơn vị hành chính tương đương có ranh giới trùng với biên giới quốc gia. Mục đích nhằm tạo thuận lợi cho việc qua lại, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của cư dân biên giới và bảo đảm an ninh cho mỗi nước. Hai bên có trách nhiệm thông báo cho nhau danh sách cụ thể các đơn vị hành chính này.
2. Quy chế quản lý cư dân và các hoạt động trong khu vực biên giới (Điều 4 - Điều 7)
- Giấy chứng minh biên giới: Cư dân từ 15 tuổi trở lên cư trú trong khu vực biên giới sẽ được cơ quan có thẩm quyền nước mình cấp một giấy chứng minh biên giới có ký hiệu riêng do hai bên thỏa thuận để phân biệt với người ngoài khu vực. Những phần tử xấu gây nguy hại cho an ninh chính trị, trật tự xã hội và kinh tế không được phép cư trú tại khu vực này.
- Hoạt động giao thương và sinh hoạt: Cư dân biên giới được phép qua lại biên giới bên kia để mua bán, trao đổi hàng hóa thiết yếu phục vụ đời sống và sản xuất, thăm viếng, tham gia các hoạt động văn hóa, giải trí. Các mặt hàng này được miễn giấy phép và thuế quan theo danh mục thỏa thuận, nhưng chỉ được giao dịch tại các chợ biên giới do chính quyền mỗi bên mở và phải tuân thủ luật pháp nước sở tại.
- Nghiêm cấm các hoạt động tự ý: Cấm cư dân tự ý sang khu vực biên giới bên kia để cư trú, làm nhà, canh tác, khai thác lâm thổ sản, săn bắn, chăn thả gia súc, đánh bắt thủy sản khi chưa được phép của chính quyền hai bên từ cấp huyện trở lên.
- Xử lý vi phạm cư trú, làm nhà: Trường hợp vi phạm sau khi Hiệp định có hiệu lực phải tự dỡ nhà và trở về nước trong vòng 6 tháng.
- Xử lý hoạt động sản xuất tồn tại từ trước: Nếu không được phép tiếp tục canh tác, đối với hoa màu và cây ngắn ngày, đương sự được tiếp tục qua lại chăm sóc và thu hoạch hết vụ. Đối với cây lâu năm, chậm nhất 1 năm sau khi Hiệp định có hiệu lực, đương sự phải nhượng lại cho chính quyền địa phương sở tại và nhận bồi thường theo giá thỏa thuận. Trong quá trình này, đương sự phải tuân thủ luật pháp nước sở tại.
- Chính sách đối với cư dân lâu năm: Những người dân lương thiện đã cư trú lâu năm tại khu vực biên giới bên kia trước ngày Hiệp định có hiệu lực, nếu tôn trọng luật pháp và phong tục tập quán nước sở tại, sẽ được chính quyền địa phương tạo điều kiện tiếp tục sinh sống và làm ăn. Quy định này không áp dụng cho các phần tử xấu, làm ăn phi pháp.
3. Quy định về sử dụng nguồn nước, bảo vệ tài nguyên và y tế (Điều 8 - Điều 11)
- Sử dụng nguồn nước sông, suối, kênh, rạch biên giới:
- Nơi biên giới đi giữa dòng: Cư dân hai bên được dùng nước sinh hoạt, đánh bắt thủy sản và tàu thuyền đi lại bình thường nhưng không được lên bờ bên kia (trừ trường hợp gặp tai nạn và sẽ được hỗ trợ).
- Nơi sông, suối thuộc chủ quyền một bên: Cư dân bên kia vẫn được dùng nước sinh hoạt, tàu thuyền đi lại bình thường nhưng không được đánh bắt thủy sản, trừ khi được chính quyền từ cấp huyện trở lên của hai bên cho phép và phải tôn trọng chủ quyền, luật pháp của nước sở tại.
- Xây dựng công trình thủy lợi: Công trình nhỏ phải được sự bàn bạc và thống nhất của chính quyền cấp huyện hai bên, bảo đảm không làm thay đổi hướng dòng chảy. Công trình vừa và lớn phải do chính quyền cấp tỉnh bàn bạc và báo cáo Chính phủ hai nước quyết định.
- Bảo vệ rừng và phòng chống thiên tai, dịch bệnh:
- Hai bên có biện pháp bảo vệ rừng và cây trồng dọc biên giới. Khi xảy ra cháy rừng hoặc sâu bệnh phá hoại, bên bị ảnh hưởng phải nhanh chóng dập tắt, diệt trừ và thông báo ngay cho bên kia để phối hợp phòng ngừa, hỗ trợ khi có yêu cầu.
- Khi có dịch bệnh ở người hoặc gia súc, phải áp dụng các biện pháp phòng chống kịp thời và thông báo cho bên kia. Chính quyền cấp tỉnh có quyền quyết định tạm ngừng việc qua lại của cư dân và ngừng mua bán, di chuyển gia súc tại vùng dịch và các khu vực lân cận.
- Hỗ trợ y tế khẩn cấp: Trong trường hợp có người bị bệnh nặng hoặc tai nạn cần cấp cứu, cư dân biên giới có thể liên hệ trực tiếp với cơ sở y tế gần nhất của bên kia để yêu cầu giúp đỡ, đồng thời báo cáo chính quyền bên mình để hoàn tất các thủ tục cần thiết.
4. Quy định về cửa khẩu và thủ tục kiểm soát qua lại biên giới (Điều 12 - Điều 15)
- Hệ thống cửa khẩu: Hai bên thống nhất mở 8 cửa khẩu chính trên các tuyến đường bộ và đường sông bao gồm:
- Đường số 19: Lệ Thanh – An-đông-Pếch
- Đường số 14: Bu Pờ-rang – Ô-reng
- Đường số 13: Bo Nuê – Xnun
- Đường số 22B (Việt Nam) / Đường số 7 (Cam-pu-chia): Xa Mách – Tơ-ra-peng Phơ-long
- Đường số 22A (Việt Nam) / Đường số 1 (Cam-pu-chia): Mộc Bài – Ba-vét
- Đường số 2: Tịnh Biên – Phơ-nông Đơn
- Đường số 17: Xà Xía – Lốc
- Sông Cửu Long / Sông Mê-công: Vĩnh Xương – Thường Phước / Ca-ôm Sam-no – Cốc Rô-ca
- Quy định về giấy tờ đối với từng đối tượng qua lại biên giới:
- Cán bộ, viên chức, quân đội đi công tác, học tập, chữa bệnh (kể cả kiều dân được phép về nước): Phải có hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị ngang hộ chiếu do Bộ Ngoại giao cấp.
- Cán bộ, công nhân viên các ngành và các tỉnh nội địa đi thực hiện nhiệm vụ: Phải có giấy thông hành do cơ quan có thẩm quyền thuộc Bộ Nội vụ hoặc Bộ Ngoại giao cấp.
- Đơn vị quân đội hoặc quân nhân đi riêng lẻ thực hiện nhiệm vụ theo thỏa thuận quốc phòng: Phải có giấy giới thiệu do cơ quan quân sự có thẩm quyền được Bộ Quốc phòng hai nước chỉ định cấp.
- Cán bộ, công nhân viên thuộc tỉnh biên giới sang tỉnh biên giới đối diện công tác hoặc thăm viếng: Phải có giấy thông hành biên giới do chính quyền cấp tỉnh cấp (chỉ có giá trị tại tỉnh đến).
- Người dân đi việc riêng (thăm thân, bốc mộ...): Phải có giấy tờ tương đương hộ chiếu do cơ quan có thẩm quyền thuộc Bộ Nội vụ hoặc Bộ Ngoại giao cấp.
- Cư dân khu vực biên giới qua lại ngắn ngày: Phải có giấy chứng minh biên giới. Nếu lưu trú quá 3 ngày phải có giấy phép của chính quyền xã hoặc đơn vị biên phòng gần nhất bên mình cấp.
- Thủy thủ tàu thuyền: Phải có thẻ thủy thủ.
- Hàng hóa vận chuyển qua biên giới (trừ hàng quân sự): Phải có giấy chứng nhận của cơ quan chủ quản và tuân thủ luật lệ hải quan, kiểm dịch của mỗi bên.
- Mẫu giấy tờ và con dấu: Thống nhất mẫu giấy thông hành biên giới bằng hai thứ tiếng Việt và Khơ-me. Mọi thay đổi về mẫu chữ ký, con dấu phải được thông báo cho bên kia trước 30 ngày.
- Quy trình kiểm soát: Người, phương tiện và hàng hóa phải đi đúng cửa khẩu ghi trên giấy tờ, xuất trình giấy tờ cho trạm kiểm soát để đăng ký và chịu sự kiểm soát cần thiết. Người không mang quốc tịch Việt Nam hoặc Cam-pu-chia chỉ được phép qua lại biên giới tại cửa khẩu trên tuyến Đường 22A / Đường 1 và tuyến Sông Cửu Long / Sông Mê-công.
5. Hợp tác an ninh, giải quyết tranh chấp và điều khoản thi hành (Điều 16 - Điều 19)
- Hợp tác giữ gìn an ninh trật tự: Hai bên phối hợp chặt chẽ để phát hiện, ngăn chặn các hoạt động biệt kích, gián điệp, tàn quân của chế độ cũ và các phần tử xấu khác. Đối với công dân vi phạm pháp luật của nước bên kia (cướp của, hành hung, buôn lậu...), chính quyền địa phương sở tại sẽ bắt giữ, lập biên bản và bàn giao người cùng tang vật cho nước gốc xử lý.
- Giải quyết tranh chấp biên giới: Các tranh chấp phát sinh sẽ được chính quyền địa phương hai bên gặp gỡ, bàn bạc giải quyết trên tinh thần hữu nghị. Riêng tranh chấp về lãnh thổ phải báo cáo lên Chính phủ hai nước giải quyết; trong thời gian chờ đợi, hai bên phải giữ nguyên trạng và duy trì quan hệ bình thường.
- Hiệu lực và gia hạn: Hiệp định có hiệu lực trong thời hạn 5 năm kể từ khi Hiệp ước về nguyên tắc giải quyết vấn đề biên giới ngày 20 tháng 7 năm 1983 có hiệu lực. Trước khi hết hạn 3 tháng, nếu không bên nào thông báo hủy bỏ, Hiệp định sẽ tự động gia hạn thêm mỗi kỳ 5 năm. Hiệp định có thể được sửa đổi, bổ sung theo thỏa thuận chung của hai bên.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia;
Căn cứ vào Hiệp ước hòa bình, hữu nghị và hợp tác giữa nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia ký ngày 18 tháng 2 năm 1979;
Với lòng mong muốn xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị lâu dài giữa hai nước trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của mỗi nước, phù hợp với mối quan hệ đặc biệt Việt Nam – Cam-pu-chia nhằm tăng cường bảo vệ an ninh khu vực biên giới hai nước;
Đã thỏa thuận những điều sau đây:
I.- ĐƯỜNG BIÊN GIỚI VÀ KHU VỰC BIÊN GIỚI
Hai Bên sẽ thông báo cho nhau danh sách các xã hoặc đơn vị hành chính tương đương nói trên có ghi rõ thuộc huyện, tỉnh nào.
b) Những phần tử xấu có nguy hại cho việc giữ gìn an ninh chính trị, trật tự xã hội và kinh tế ở khu vực biên giới không được cư trú trong khu vực biên giới.
b) Hai Bên sẽ quy định danh mục, số lượng những mặt hàng người dân khu vực biên giới Bên này được phép mang theo sang khu vực biên giới Bên kia như nói ở khoản a) Điều này. Những thứ hàng này được miễn giấy phép và thuế quan.
c) Những hàng hóa nói ở khoản a) và b) Điều này chỉ được mua bán tại các chợ do chính quyền mỗi Bên mở tại khu vực biên giới và phải tuân theo luật lệ của mỗi Bên.
b) Trường hợp đang sản xuất tại khu vực biên giới Bên kia khi Hiệp định này có hiệu lực và không được phép tiếp tục nữa, nếu là hoa màu và cây lâu năm chưa kịp thu hoạch thì đương sự được phép tiếp tục qua biên giới để chăm sóc cho đến khi thu hoạch xong và chỉ được làm và thu hoạch hết vụ đó. Đối với cây lâu năm chậm nhất một năm sau khi Hiệp định này có hiệu lực, đương sự phải nhượng lại cho chính quyền địa phương sở tại và chính quyền địa phương sở tại cần xem xét việc bồi thường cho đương sự theo giá thỏa thuận.
c) Trong lúc tiến hành các hoạt động sản xuất nói trên ở khu vực biên giới Bên kia, đương sự phải tuân theo luật lệ của Bên kia.
b) Ở những nơi sông, suối, kênh, rạch thuộc một Bên do đường biên giới đi về một phía bờ, những người dân khu vực biên giới Bên kia vẫn được dùng nước các sông, suối, kênh, rạch đó vào sinh hoạt hàng ngày, tàu thuyền được đi lại bình thường nhưng không được đánh bắt cá, tôm trên các sông, suối, kênh, rạch đó trừ trường hợp được phép của chính quyền hai Bên từ cấp huyện trở lên và họ phải tôn trọng chủ quyền và luật lệ của nước có chủ quyền đối với sông, suối, kênh, rạch đó.
c) Những người dân khu vực biên giới hai Bên được làm công trình thủy lợi nhỏ trên sông, suối, kênh, rạch biên giới. Trước khi làm, chính quyền cấp huyện Bên có ý định xây dựng công trình đó phải bàn bạc và được sự thỏa thuận của chính quyền cấp huyện phía Bên kia nhằm bảo đảm lợi ích của cả hai Bên và không được làm thay đổi hướng dòng chảy.
Việc xây dựng công trình thủy lợi vừa và lớn trên sông, suối, kênh, rạch biên giới, phải do chính quyền cấp tỉnh hai Bên bàn bạc và báo cáo lên Chính phủ hai Bên quyết định.
a) Hai Bên cần có biện pháp bảo vệ rừng và cây trồng ở hai bên biên giới.
b) Khi một Bên bị sâu bệnh phá hoại hoa màu, cây cối hoặc bị cháy rừng, Bên đó phải nhanh chóng diệt trừ sâu bệnh và dập tắt đám cháy, đồng thời thông báo ngay cho chính quyền phía Bên kia biết để có biện pháp kịp thời phòng ngừa. Nếu được yêu cầu, phía Bên kia sẽ tích cực và kịp thời giúp đỡ với mọi khả năng của mình.
b) Trong thời gian có dịch bệnh người hay gia súc ở một vùng biên giới, cần tạm ngừng việc qua lại của những người dân khu vực biên giới lân cận của hai Bên và ngừng việc mua bán, di chuyển gia súc trong khu vực biên giới đó cũng như ở các vùng lân cận. Việc tạm ngừng nói trên phải do chính quyền cấp tỉnh quyết định.
a) Hai Bên thỏa thuận mở 8 cửa khẩu trên các đường bộ, đường sông sau đây:
| VIỆT NAM | CAM-PU-CHIA |
| Đường số 19: | |
| Lệ Thanh | An-đông-Pếch |
| Đường số 14: | |
| Bu Pờ-rang | Ô-reng |
| Đường số 13 | |
| Bo Nuê | Xnun |
| Đường số 22B: | Đường số 7: |
| Xa Mách | Tơ-ra-peng Phơ-long |
| Đường số 22A: | Đường số 1: |
| Mộc Bài | Ba-vét |
| Đường số 2: | |
| Tịnh Biên | Phơ-nông Đơn |
| Đường số 17: | |
| Xà Xía | Lốc |
| Sông Cửu Long (Sông Tiền): | Sông Mê-công: |
| Vĩnh Xương – Thường Phước | Ca-ôm Sam-no – Cốc Rô-ca |
b) Hai Bên sẽ đặt trạm kiểm soát ở các cửa khẩu chính làm nhiệm vụ kiểm soát người, hành lý, hàng hóa và phương tiện vận chuyển qua lại biên giới theo những quy định của Hiệp định này, hoặc những thỏa thuận liên quan khác của hai nước và những luật lệ liên quan của mỗi nước.
c) Ở những nơi xa các cửa khẩu chính nói ở khoản a) Điều này, chính quyền cấp Tỉnh hai Bên có thể thỏa thuận mở thêm những cửa khẩu phụ trên những đường nhỏ hoặc đường mòn để thuận tiện cho những người dân khu vực biên giới hai Bên qua lại.
d) Việc kiểm soát sự qua lại biên giới ở cửa khẩu phụ sẽ do đồn biên phòng nơi đó phụ trách.
Nhân dân, cán bộ, bộ đội, hàng hóa hai nước qua biên giới phải theo các quy định sau đây:
a) Cán bộ, viên chức, công nhân các ngành kể cả quân đội của mỗi Bên, đi tập thể hoặc cá nhân, qua lại biên giới vì lý do công tác, thăm viếng hữu nghị, học tập, chữa bệnh hoặc lý do khác, kể cả kiều dân của hai Bên được phép đi về, phải có hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị ngang hộ chiếu do Bộ Ngoại giao nước họ cấp.
b) Cán bộ, viên chức, công nhân các ngành và các tỉnh không phải là tỉnh biên giới của mỗi nước, đi tập thể hoặc cá nhân, qua lại biên giới để thực hiện nhiệm vụ do các ngành, các cấp giao hoặc đã được hai Bên thỏa thuận phải có giấy thông hành do cơ quan có thẩm quyền thuộc Bộ Nội vụ hoặc Bộ Ngoại giao của mỗi nước cấp.
c) Các đơn vị quân đội hoặc quân nhân đi riêng lẻ của mỗi Bên qua lại biên giới để thực hiện nhiệm vụ do Bộ Quốc phòng hai nước thỏa thuận, phải có giấy giới thiệu qua biên giới của các cơ quan quan sự có thẩm quyền do hai Bộ Quốc phòng thỏa thuận chỉ định.
d) Cán bộ, viên chức, công nhân thuộc tỉnh biên giới của nước này đi tập thể hay cá nhân, qua tỉnh biên giới Bên kia thực hiện nhiệm vụ hoặc đi thăm viếng hữu nghị phải có giấy thông hành biên giới do chính quyền cấp tỉnh của mỗi nước cấp. Giấy thông hành biên giới nói trên chỉ có giá trị đối với tỉnh biên giới nơi đến.
e) Những người dân mỗi nước qua lại biên giới vì việc riêng tư như thăm người thân, đất bốc mồ mả … phải có giấy tờ có giá trị ngang hộ chiếu do cơ quan có thẩm quyền thuộc Bộ Nội vụ hoặc Bộ Ngoại giao của mỗi nước cấp.
f) Những người dân khu vực biên giới Bên này sang khu vực biên giới Bên kia theo khoản a) Điều 5 Hiệp định này phải có giấy chứng minh biên giới. Nếu đương sự muốn lưu lại khu vực biên giới đó quá ba ngày phải có giấy phép của chính quyền xã hoặc đơn vị bộ đội biên phòng gần nhất bên phía mình cấp. Họ phải xuất trình giấy chứng minh biên giới và giấy phép đó nếu có cho chính quyền cấp xã nơi đến theo đúng Điều 15 – b) dưới đây.
g) Thủy thủ theo các tàu của Bên này qua lại lãnh thổ Bên kia phải có thẻ thủy thủ.
h) Hàng hóa các loại đưa qua biên giới (trừ hàng quân sự) phải có giấy chứng nhận của cơ quan có hàng hóa đó và tuân theo đúng luật lệ hải quan, kiểm dịch và luật lệ liên quan khác của mỗi Bên.
Khi một Bên có sự thay đổi chữ ký và con dấu cần thông báo mẫu chữ ký và mẫu con dấu mới cho Bên kia trước ba mươi ngày để thông báo cho các trạm kiểm soát cửa khẩu, đồn biên phòng và chính quyền xã trong khu vực biên giới biết.
Việc kiểm soát qua lại biên giới quy định như sau:
a) Người và hành lý, hàng hóa, phương tiện vận chuyển của hai Bên qua lại biên giới hai nước phải có đủ giấy tờ quy định ở Điều 13 Hiệp định này, phải qua đúng cửa khẩu ghi trên giấy tờ, phải xuất trình giấy tờ cho trạm kiểm soát cửa khẩu đăng ký và chịu những kiểm soát cần thiết.
Trường hợp người và hành lý, hàng hóa và phương tiện vận chuyển không có hoặc không đủ giấy tờ cần thiết thì không được qua biên giới.
b) Những người dân khu vực biên giới ở những nơi xa cửa khẩu chính thì có thể qua biên giới bằng cửa khẩu phụ. Khi qua biên giới phải xuất trình giấy tờ với đồn, trạm biên phòng làm nhiệm vụ kiểm soát ở đó. Ở những nơi không có đồn, trạm kiểm soát, đương sự phải xuất trình giấy chứng minh biên giới cho chính quyền cấp xã nơi mình đến. Nếu thời gian lưu lại khu vực biên giới Bên kia quá ba ngày đương sự phải xuất trình thêm giấy phép nói ở khoản f) Điều 13 Hiệp định này.
c) Những người không thuộc quốc tịch Việt Nam và quốc tịch Cam-pu-chia muốn qua biên giới hai nước chỉ được đi qua cửa khẩu trên đường số 22.A. Về phía Việt Nam hay đường số 1 về phía Cam-pu-chia, đường Sông Cửu Long (Sông Tiền) về phía Việt Nam hay đường sông Mê-công về phía Cam-pu-chia và chịu sự kiểm soát của các trạm kiểm soát tại những nơi đó.
Hai Bên tăng cường hợp tác để giữ gìn trật tự, an ninh chung trong khu vực biên giới hai nước.
a) Khi một Bên phát hiện sự hoạt động của biệt kích, gián điệp, tàn quân của chế độ cũ và phần tử xấu khác cần kịp thời thông báo phía Bên kia biết và phối hợp đối phó nếu cần.
b) Trường hợp công dân một nước vi phạm luật pháp nước Bên kia (cướp của, hành hung, buôn lậu v.v…) chính quyền địa phương cần kịp thời bắt giữ, lập biên bản rồi giao người và tang vật cho chính quyền Bên phía công dân đó xử lý.
Ba tháng trước khi hết hạn, nếu không Bên nào nêu ý muốn hủy bỏ Hiệp định thì Hiệp định này mặc nhiên được gia hạn thêm một thời hạn năm năm nữa.
b) Hiệp định này có thể được bổ sung hoặc sửa đổi theo sự thỏa thuận của hai Bên ký kết.
Làm tại Nông Pênh ngày 20 tháng 7 năm 1983 thành hai bản bằng tiếng Việt và tiếng Khơ-me, cả hai văn bản đều có giá trị như nhau.
| THAY MẶT | THAY MẶT |
Hiệp định về quy chế biên giới giữa Việt Nam và Cam-pu-chia 1983
- Số hiệu: Khongso
- Loại văn bản: Điều ước quốc tế
- Ngày ban hành: 20/07/1983
- Nơi ban hành: Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chính phủ Cam pu chia
- Người ký: Nguyễn Cơ Thạch, Hun Xen
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 20/07/1983
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
