Nghị định số 122/2010/NĐ-CP ban hành ngày 31 tháng 12 năm 2010 nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp. Dưới đây là phần tóm tắt chi tiết và chuyên sâu các nội dung cốt lõi của văn bản này.
1. Quản lý chỉ dẫn địa lý và đặc sản địa phương
Nghị định thực hiện phân cấp và làm rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước đối với chỉ dẫn địa lý và đặc sản địa phương:
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Có trách nhiệm quản lý chỉ dẫn địa lý thuộc địa phương, bao gồm cả địa danh và các dấu hiệu khác chỉ nguồn gốc đặc sản địa phương. UBND cấp tỉnh tiến hành nộp đơn đăng ký, tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý và cấp phép đăng ký nhãn hiệu chứng nhận đối với các địa danh, dấu hiệu này.
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Công Thương: Chủ trì, phối hợp với UBND cấp tỉnh để xác định các loại đặc sản, đặc tính sản phẩm và quy trình sản xuất các đặc sản mang chỉ dẫn địa lý thuộc phạm vi quản lý của bộ, ngành, địa phương.
- Bộ Khoa học và Công nghệ: Chịu trách nhiệm ban hành các tiêu chí cụ thể để xác định địa danh và các dấu hiệu khác chỉ nguồn gốc địa lý của sản phẩm.
2. Quy định về Sáng chế mật (Bổ sung Chương IIIa)
Đây là một trong những nội dung bổ sung quan trọng nhất của Nghị định, thiết lập hành lang pháp lý chặt chẽ đối với các sáng chế liên quan đến an ninh, quốc phòng:
- Khái niệm và hình thức bảo hộ: Sáng chế mật là sáng chế được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định là bí mật nhà nước thuộc lĩnh vực quốc phòng và an ninh quốc gia. Sáng chế mật chỉ được cấp Bằng độc quyền sáng chế mật hoặc Bằng độc quyền giải pháp hữu ích mật.
- Chế độ bảo mật: Đơn đăng ký, Bằng độc quyền sáng chế mật và Bằng độc quyền giải pháp hữu ích mật không được công bố và phải được bảo mật tuyệt đối theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.
- Sử dụng và chuyển giao: Việc sử dụng, chuyển giao quyền sử dụng, chuyển giao quyền nộp đơn hoặc quyền sở hữu sáng chế mật phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Bộ trưởng Bộ Công an và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có quyền sử dụng hoặc giao cho tổ chức, cá nhân sử dụng sáng chế mật vì mục đích quốc phòng, an ninh.
- Thủ tục sau khi giải mật: Khi được giải mật, đơn đăng ký sáng chế mật sẽ tiếp tục được xử lý như đơn sáng chế thông thường. Các văn bằng bảo hộ sáng chế mật sẽ được chuyển đổi thành văn bằng bảo hộ thông thường, được công bố trên Công báo sở hữu công nghiệp và ghi nhận vào Sổ đăng ký quốc gia về sáng chế.
- Kiểm soát an ninh trước khi đăng ký ra nước ngoài: Tổ chức, cá nhân Việt Nam chỉ được đăng ký sáng chế mật tại những nước có quy định bảo hộ sáng chế mật và phải được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho phép. Sáng chế được tạo ra tại Việt Nam sẽ không được Nhà nước bảo hộ nếu nộp đơn đăng ký bảo hộ ở nước ngoài trái với quy định kiểm soát an ninh (chỉ được nộp đơn ra nước ngoài sau khi đã nộp đơn tại Việt Nam được 6 tháng, trừ trường hợp đặc biệt; không được nộp ra nước ngoài nếu sáng chế được xác định là sáng chế mật và đã có thông báo của cơ quan thẩm quyền).
- Thẩm quyền xác định và hướng dẫn: Bộ Quốc phòng và Bộ Công an thực hiện việc xác định và giải mật sáng chế mật. Bộ Công an chủ trì phối hợp với Bộ Quốc phòng và Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành các thủ tục chi tiết về thẩm định, cấp văn bằng, quản lý và đăng ký sáng chế mật ra nước ngoài.
3. Hoạt động dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp
Nghị định sửa đổi, bổ sung các quy định chặt chẽ về việc cấp, thu hồi chứng chỉ hành nghề và quản lý các tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp:
- Cấp và thu hồi Chứng chỉ hành nghề: Chứng chỉ được cấp cho cá nhân đáp ứng đủ điều kiện theo Luật Sở hữu trí tuệ. Chứng chỉ sẽ bị thu hồi nếu cá nhân từ bỏ hoạt động, không còn đáp ứng đủ điều kiện hành nghề, hoặc bị cơ quan thẩm quyền tước quyền sử dụng. Việc xin cấp lại chỉ được xem xét sau khi hết thời hạn bị tước quyền sử dụng. Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan tổ chức việc cấp và thu hồi này.
- Ghi nhận tổ chức dịch vụ: Các tổ chức đủ điều kiện (bao gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam - loại trừ một số hình thức có vốn nước ngoài, tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ) được ghi nhận vào Sổ đăng ký quốc gia về đại diện sở hữu công nghiệp và công bố trên Công báo sở hữu công nghiệp.
- Hoạt động của chi nhánh: Chi nhánh và đơn vị phụ thuộc chỉ được kinh doanh dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp dưới danh nghĩa của tổ chức mà mình phụ thuộc. Người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền của tổ chức phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện hành nghề theo quy định.
- Xóa tên tổ chức dịch vụ: Tổ chức sẽ bị xóa tên khỏi Sổ đăng ký quốc gia và công bố trên Công báo sở hữu công nghiệp nếu chấm dứt hoạt động kinh doanh dịch vụ này hoặc không còn đáp ứng đủ điều kiện hoạt động theo luật định.
4. Điều khoản chuyển tiếp
Nghị định phân định rõ quy trình xử lý đơn đăng ký sở hữu công nghiệp theo các mốc thời gian nhận đơn:
- Các đơn nộp cho Cục Sở hữu trí tuệ từ ngày 01 tháng 7 năm 2006 đến trước ngày 01 tháng 10 năm 2010 được giải quyết theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và các văn bản hướng dẫn liên quan.
- Các đơn nộp từ ngày 01 tháng 01 năm 2010 được giải quyết theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
- Cục Sở hữu trí tuệ thực hiện cấp Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý đối với các tên gọi xuất xứ hàng hóa đã được đăng bạ trước đó phù hợp với quy định mới.
5. Hiệu lực và trách nhiệm thi hành
- Hiệu lực thi hành: Nghị định này chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20 tháng 02 năm 2011.
- Trách nhiệm hướng dẫn và thi hành: Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ chịu trách nhiệm hướng dẫn thi hành Nghị định này. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành các quy định của Nghị định.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 122/2010/NĐ-CP | Hà Nội, ngày 31 tháng 12 năm 2010 |
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Sở hữu trí tuệ ngày 29 tháng 11 năm 2005 được sửa đổi, bổ sung ngày 19 tháng 6 năm 2009;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ,
NGHỊ ĐỊNH:
1. Sửa đổi điểm h khoản 2 Điều 3 như sau:
“h) Quản lý chỉ dẫn địa lý thuộc địa phương, kể cả địa danh, dấu hiệu khác chỉ nguồn gốc đặc sản địa phương;”
2. Sửa đổi khoản 3, khoản 4 và bổ sung khoản 5 Điều 19 như sau:
“3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xác định các loại đặc sản, các đặc tính của sản phẩm, quy trình sản xuất các các đặc sản mang chỉ dẫn địa lý thuộc phạm vi quản lý của bộ, ngành, địa phương.
4. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiến hành nộp đơn đăng ký và tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý cho các đặc sản của địa phương và cấp phép để đăng ký nhãn hiệu chứng nhận đối với địa danh, dấu hiệu khác chỉ nguồn gốc địa lý đặc sản địa phương.
5. Bộ Khoa học và Công nghệ quy định tiêu chí xác định địa danh, dấu hiệu khác chỉ nguồn gốc địa lý của sản phẩm.”
3. Bổ sung Chương IIIa như sau:
“Chương IIIa. SÁNG CHẾ MẬT
Điều 23a. Sáng chế mật; văn bằng bảo hộ sáng chế mật; nội dung và giới hạn quyền đối với sáng chế mật
1. Sáng chế được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định là bí mật nhà nước thuộc lĩnh vực quốc phòng và an ninh quốc gia theo pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước gọi là sáng chế mật.
2. Sáng chế mật chỉ có thể được cấp Bằng độc quyền sáng chế mật hoặc Bằng độc quyền giải pháp hữu ích mật.
3. Đơn đăng ký sáng chế mật, Bằng độc quyền sáng chế mật, Bằng độc quyền giải pháp hữu ích mật không được công bố và phải được bảo mật theo pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.
4. Việc sử dụng, chuyển giao quyền sử dụng sáng chế mật, chuyển giao quyền nộp đơn, quyền sở hữu sáng chế mật phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.
5. Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có thể sử dụng, giao cho tổ chức, cá nhân sử dụng sáng chế mật nhằm mục đích quốc phòng, an ninh theo quy định tại các điều 145, 146 và 147 của Luật Sở hữu trí tuệ.
6. Kể cả ngày sáng chế mật được cơ quan có thẩm quyền giải mật theo pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước, đơn và văn bằng bảo hộ sáng chế mật được xử lý như sau:
a) Đơn sáng chế mật tiếp tục được xử lý như đơn sáng chế;
b) Bằng độc quyền sáng chế mật, Bằng độc quyền giải pháp hữu ích mật được chuyển đổi thành Bằng độc quyền sáng chế, Bằng độc quyền giải pháp hữu ích và được công bố trên Công báo sở hữu công nghiệp và ghi nhận vào Sổ đăng ký quốc gia về sáng chế.
Điều 23b. Kiểm soát an ninh đối với sáng chế trước khi đăng ký ra nước ngoài.
1. Tổ chức, cá nhân Việt Nam chỉ được đăng ký sáng chế mật ở những nước có quy định về bảo hộ sáng chế mật và phải được cơ quan có thẩm quyền cho phép theo quy định tại khoản 2 Điều 23c của Nghị định này.
2. Sáng chế của tổ chức, cá nhân Việt Nam và sáng chế được tạo ra tại Việt Nam không được Nhà nước Việt Nam bảo hộ nếu đã nộp đơn đăng ký bảo hộ sở hữu công nghiệp ở nước ngoài trái với quy định về kiểm soát an ninh sau đây:
a) Chỉ được nộp đơn yêu cầu bảo hộ sở hữu công nghiệp ở nước ngoài khi đã nộp đơn đăng ký sáng chế tại Việt Nam và đã kết thúc thời hạn 6 tháng kể từ ngày nộp đơn đó, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản này;
b) Không được nộp đơn yêu cầu bảo hộ sở hữu công nghiệp ở nước ngoài khi sáng chế được xác định là sáng chế mật theo pháp luật về bảo hộ bí mật nhà nước và đã có thông báo của cơ quan có thẩm quyền.
Điều 23c. Xác định sáng chế mật và giải mật; xác lập quyền và chuyển giao quyền đối với sáng chế mật
1. Việc xác định sáng chế mật và giải mật do Bộ Quốc phòng và Bộ Công an thực hiện theo pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.
2. Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng và Bộ Khoa học và Công nghệ quy định thủ tục xác định sáng chế mật và giải mật sáng chế; bảo vệ sáng chế mật; thủ tục thẩm định đơn và cấp văn bằng bảo hộ sáng chế mật; quản lý việc sử dụng, chuyển giao quyền đối với sáng chế mật và đăng ký bảo hộ sở hữu công nghiệp đối với sáng chế ở nước ngoài phù hợp với pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước và pháp luật về sở hữu trí tuệ.”
4. Sửa đổi, bổ sung Điều 29 như sau:
“Điều 29. Cấp và thu hồi Chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp
1. Chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp được cấp cho cá nhân đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 155 của Luật Sở hữu trí tuệ theo yêu cầu của cá nhân đó sau khi nộp phí, lệ phí theo quy định của pháp luật.
2. Chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp bị thu hồi trong các trường hợp sau đây:
a) Người được cấp Chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp từ bỏ hoạt động đại diện sở hữu công nghiệp;
b) Người được cấp Chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp không còn đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 155 của Luật Sở hữu trí tuệ;
c) Người được cấp Chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp bị tước quyền sử dụng Chứng chỉ hành nghề theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
3. Việc xem xét yêu cầu cấp lại Chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp trong trường hợp đã bị thu hồi theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều này chỉ được thực hiện sau khi kết thúc thời hạn bị tước quyền sử dụng Chứng chỉ hành nghề.
4. Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức việc cấp, thu hồi Chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp.”
“Điều 29a. Ghi nhận và xóa tên tổ chức đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp.
1. Tổ chức có đủ các điều kiện theo quy định tại Điều 154 của Luật Sở hữu trí tuệ và quy định chi tiết tại các khoản 2, 3 và 4 Điều này được ghi nhận là tổ chức kinh doanh dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp trong Sổ đăng ký quốc gia về đại diện sở hữu công nghiệp và công bố trên Công báo sở hữu công nghiệp theo yêu cầu của tổ chức đó sau khi nộp phí, lệ phí theo quy định của pháp luật.
2. Các tổ chức quy định tại khoản 1 Điều 154 của Luật Sở hữu trí tuệ bao gồm:
a) Doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo pháp luật về doanh nghiệp;
b) Hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã được thành lập và hoạt động theo pháp luật về hợp tác xã;
c) Các tổ chức hành nghề luật sư được thành lập và hoạt động theo pháp luật về luật sư, trừ chi nhánh của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài, công ty luật trách nhiệm hữu hạn một phần trăm vốn nước ngoài, công ty luật trách nhiệm hữu hạn dưới hình thức liên doanh giữa tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam và tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài;
d) Các tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ được thành lập và hoạt động theo pháp luật về khoa học và công nghệ.
3. Chi nhánh và các đơn vị phụ thuộc khác của các tổ chức quy định khoản 2 Điều này chỉ được kinh doanh dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp dưới danh nghĩa của tổ chức mà mình phụ thuộc.
4. Người đại diện theo pháp luật của tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp hoặc người tổ chức được người đại diện theo pháp luật của tổ chức ủy quyền trong hoạt động kinh doanh dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp phải đáp ứng các điều kiện hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp quy định tại khoản 1 Điều 155 của Luật Sở hữu trí tuệ.
5. Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp bị xóa tên trong Sổ đăng ký quốc gia về đại diện sở hữu công nghiệp và việc xóa tên được công bố trên Công báo sở hữu công nghiệp trong các trường hợp sau đây:
a) Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp chấm dứt kinh doanh dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp;
b) Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp không còn đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định tại Điều 154 của Luật Sở hữu trí tuệ.”
6. Bổ sung các khoản 2a, 2b và 3a Điều 36 như sau:
“2a. Các đơn đăng ký sở hữu công nghiệp nộp cho Cục Sở hữu trí tuệ từ ngày 01 tháng 7 năm 2006 đến trước ngày 01 tháng 10 năm 2010 được xử lý theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
2b. Các đơn đăng ký sở hữu công nghiệp nộp cho Cục Sở hữu trí tuệ từ ngày 01 tháng 01 năm 2010 được xử lý theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
3a. Cục Sở hữu trí tuệ cấp Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý đối với tên gọi xuất xứ hàng hóa đã được đăng bạ phù hợp với quy định về đăng ký chỉ dẫn địa lý của Luật Sở hữu trí tuệ. Mọi quyền và nghĩa vụ của các chủ thể đối với tên gọi xuất xứ hàng hóa được áp dụng theo quy định về chỉ dẫn địa lý của Luật Sở hữu trí tuệ.”
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 20 tháng 02 năm 2011.
Điều 3. Trách nhiệm hướng dẫn thi hành
1. Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn thi hành Nghị định này.
2. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
|
Nơi nhận: | TM. CHÍNH PHỦ |
- 1Decree of Government No. 103/2006/ND-CP of September 22, 2006 detailing and guiding the implementation of a number of articles of The Law on Intellectual Property regarding industrial property
- 2Decree of Government No. 103/2006/ND-CP of September 22, 2006 detailing and guiding the implementation of a number of articles of The Law on Intellectual Property regarding industrial property
Decree No. 122/2010/ND-CP of December 31, 2010, amending and supplementing a number of articles of the Government''s Decree No. 103/ 2006/ND-CP of September 22, 2006, detailing and guiding a number of articles of the Law on Intellectual Property regarding industrial property
- Số hiệu: 122/2010/ND-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 31/12/2010
- Nơi ban hành: Chính phủ
- Người ký: Nguyễn Tấn Dũng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 20/02/2011
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
