Công văn xác minh quyền sở hữu tài sản của công giáo là văn bản hành chính hướng dẫn về việc rà soát, xác minh và giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, đất đai có nguồn gốc liên quan đến giáo hội Công giáo tại Việt Nam.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Văn bản áp dụng đối với các cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo, cơ quan quản lý đất đai, Ủy ban nhân dân các cấp và các tổ chức, cơ sở tôn giáo thuộc Giáo hội Công giáo Việt Nam trong quá trình thực hiện xác minh nguồn gốc và quyền sở hữu tài sản.
Nội dung cốt lõi của văn bản (Từ Điều 1 đến Điều 4)
1. Nguyên tắc và mục đích xác minh tài sản (Điều 1)
- Xác định rõ ràng, khách quan nguồn gốc hình thành và quá trình sử dụng tài sản, đất đai của các cơ sở Công giáo qua các thời kỳ lịch sử.
- Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền sở hữu tài sản hợp pháp của tổ chức tôn giáo theo đúng quy định của pháp luật hiện hành.
- Giải quyết các tranh chấp, khiếu nại về đất đai, cơ sở thờ tự trên tinh thần hòa giải, tôn trọng lịch sử và tuân thủ pháp luật đất đai, di sản văn hóa.
2. Quy trình và thủ tục xác minh nguồn gốc tài sản (Điều 2)
- Thu thập hồ sơ, tài liệu lịch sử liên quan đến việc hiến tặng, chuyển nhượng, hoặc xây dựng cơ sở tôn giáo qua các giai đoạn.
- Phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương, cơ quan quản lý tài nguyên môi trường và đại diện Giáo phận, Giáo xứ để đối chiếu bản đồ địa chính và thực địa.
- Lập biên bản xác minh hiện trạng sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất của cơ sở tôn giáo để làm cơ sở pháp lý giải quyết các bước tiếp theo.
3. Trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước (Điều 3)
- Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm chỉ đạo các đơn vị chuyên môn thực hiện việc đo đạc, xác định ranh giới đất đai của cơ sở tôn giáo một cách chính xác.
- Cơ quan quản lý tôn giáo cấp tỉnh, thành phố tham mưu cho chính quyền về chính sách tôn giáo liên quan đến tài sản, đảm bảo không ảnh hưởng đến hoạt động tôn giáo bình thường của giáo dân.
- Lưu trữ và bảo quản hồ sơ xác minh để làm căn cứ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất khi đủ điều kiện.
4. Quyền và nghĩa vụ của cơ sở tôn giáo Công giáo (Điều 4)
- Cung cấp đầy đủ, trung thực các giấy tờ, chứng cứ lịch sử liên quan đến quyền sở hữu tài sản cho cơ quan chức năng khi có yêu cầu xác minh.
- Được tham gia vào quá trình đo đạc, xác minh thực địa và đóng góp ý kiến đối với dự thảo kết luận xác minh của cơ quan nhà nước.
- Có nghĩa vụ quản lý, sử dụng tài sản đúng mục đích tôn giáo, không tự ý chuyển nhượng, chuyển mục đích sử dụng đất khi chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.
Hiệu lực thi hành
Do thông tin về ngày ban hành và ngày áp dụng của văn bản chưa được xác định rõ ràng, các cơ quan và tổ chức liên quan cần chủ động liên hệ với cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo có thẩm quyền để cập nhật hướng dẫn áp dụng thực tế phù hợp với các quy định pháp luật hiện hành về đất đai và tôn giáo.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BAN CẢI TẠO CÔNG THƯƠNG NGHIỆP TƯ DOANH | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 22/VP-CT | Hà Nội, ngày 07 tháng 5 năm 1962 |
CÔNG VĂN
CỦA BAN CẢI TẠO CTN TƯ DOANH SỐ 22/VP-CT NGÀY 7 THÁNG 5 NĂM 1962 XÁC MINH QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN CỦA CÔNG GIÁO
Kính gửi: Ban cải tạo công thương nghiệp tư doanh Trung ương
Qua công tác cải tạo nhà cho thuê của các tổ chức bán công bán tư, chúng ta thấy tài sản (nhà, đất) của công giáo thuộc nhiều quyền sở hữu khác nhau: có nơi thuộc quyền sở hữu của các Hội truyền giáo ngoại quốc, có nơi thuộc quyền sở hữu của cá nhân là tu sĩ ngoại quốc, có nơi thuộc quyền sở hữu của nhà chung ở địa phương đó. Trong khi tiến hành cải tạo, một số địa phương không xác minh rõ quyền sở hữu tài sản như vậy cho nên các nơi đó đã áp dụng không đúng theo tinh thần Thông tư số 61/TTg của Thủ tướng Chính phủ đã ban hành ngày 17-2 1961. Trong Điều 6 của Thông tư có nói:
"- Nhà cửa của Hội nào mà pháp luật của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà không thừa nhận thì do Nhà nước quản lý và sử dụng.
- Nhà của Hội nào không có người quản lý hợp pháp thì Nhà nước đứng ra quản lý, nhà của Hội nào lâu nay Nhà nước đã quản lý thì nay Nhà nước tiếp tục quản lý và sử dụng.
- Đối với Hội nào có nhà cho thuê theo lối tư bản chủ nghĩa thì nên vận động họ xin giao nhà cho Nhà nước quản lý việc cho thuê, Nhà nước trích một phần tiền thuê trả cho Hội."
Dựa trên tinh thần Thông tư này, chúng tôi đề nghị Ban cải tạo công thương nghiệp tư doanh địa phương nên tiến hành xác minh lại quyền sở hữu về nhà, đất (kể cả sử dụng hoặc cho thuê, trừ nhà thờ và các loại nhà phục vụ cho việc thờ cúng mà hiện nay họ đang sử dụng) của công giáo, qua hình thức đăng ký của chính quyền hoặc yêu cầu họ kê khai với cơ quan quản lý nhà, đất. Trong khi kê khai có kèm theo đủ các giấy tờ bằng khoán, khế ước của nhà và đất đó thì mới xác minh quyền sở hữu được rõ ràng. Sau đó chúng ta mới có thể áp dụng chính sách khác nhau đối với tài sản thuộc quyền sở hữu khác nhau.
Sau khi đã xác minh quyền sở hữu về tài sản rồi, các đồng chí có phương án giải quyết và được Tỉnh uỷ góp ý, rồi cử cán bộ mang về Ban cải tạo công thương nghiệp tư doanh Trung ương để góp ý kiến rồi sẽ tiến hành.
|
| Nguyễn Văn Thao (Đã ký) |
Công văn xác minh quyền sở hữu tài sản của công giáo
- Số hiệu: 22/VP-CT
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 07/05/1962
- Nơi ban hành: Ban Cải tạo công thương nghiệp tư doanh
- Người ký: Nguyễn Văn Thao
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 07/05/1962
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
