Công văn về việc tính thuế lợi tức đối với liên doanh (hiện chưa rõ số hiệu, cơ quan và ngày ban hành) hướng dẫn chi tiết về phương pháp tính, kê khai và nộp thuế lợi tức đối với các doanh nghiệp liên doanh hoạt động tại Việt Nam.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
- Phạm vi áp dụng: Hướng dẫn các nguyên tắc, phương pháp xác định doanh thu, chi phí và lợi tức chịu thuế phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp liên doanh.
- Đối tượng áp dụng: Các doanh nghiệp liên doanh được thành lập và hoạt động hợp pháp, các bên tham gia liên doanh, cùng các cơ quan thuế trực tiếp quản lý thu thuế lợi tức.
Nội dung cốt lõi của văn bản (Điều 1 đến Điều 4)
- Xác định doanh thu và thu nhập chịu thuế lợi tức (Điều 1)
- Quy định cụ thể về các khoản doanh thu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, cung ứng dịch vụ của doanh nghiệp liên doanh được dùng làm căn cứ tính thuế.
- Xác định các khoản thu nhập khác ngoài hoạt động kinh doanh chính của liên doanh phải gộp vào thu nhập chịu thuế theo quy định của pháp luật.
- Các khoản chi phí hợp lý được trừ khi tính thuế (Điều 2)
- Liệt kê chi tiết các khoản chi phí hợp pháp, hợp lệ được khấu trừ khi xác định lợi tức chịu thuế, bao gồm chi phí nguyên vật liệu, khấu hao tài sản cố định, chi phí tiền lương, tiền công và các chi phí quản lý doanh nghiệp.
- Quy định các khoản chi phí không được phép trừ hoặc vượt định mức khống chế khi tính thuế lợi tức của liên doanh.
- Thuế suất và phương pháp tính thuế lợi tức (Điều 3)
- Hướng dẫn áp dụng mức thuế suất thuế lợi tức cụ thể đối với doanh nghiệp liên doanh tùy thuộc vào ngành nghề, lĩnh vực đầu tư và địa bàn hoạt động theo quy định ưu đãi (nếu có).
- Công thức tính thuế lợi tức phải nộp được xác định bằng lợi tức chịu thuế nhân với thuế suất thuế lợi tức áp dụng.
- Thủ tục kê khai, nộp thuế và quyết toán thuế lợi tức (Điều 4)
- Quy định về nghĩa vụ, thời hạn và hồ sơ kê khai thuế lợi tức tạm nộp theo định kỳ (hàng tháng hoặc hàng quý) của doanh nghiệp liên doanh.
- Hướng dẫn quy trình, thủ tục và thời hạn nộp hồ sơ quyết toán thuế lợi tức năm, xử lý số thuế nộp thừa hoặc nộp thiếu sau khi quyết toán với cơ quan thuế.
Hiệu lực thi hành
Do các thông tin về ngày ban hành và ngày áp dụng của công văn chưa được xác định rõ ràng, hiệu lực thi hành của văn bản này được áp dụng theo các quy định chung của pháp luật về thuế lợi tức và quản lý thuế đối với loại hình doanh nghiệp liên doanh tại thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế liên quan.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 1152-TC/TCT | Hà Nội, ngày 22 tháng 8 năm 1991 |
CÔNG VĂN
CỦA BỘ TÀI CHÍNH SỐ 1152-TC/TCT NGÀY 22 THÁNG 8 NĂM 1991VỀ VIỆC TÍNH THUẾ LỢI TỨC ĐỐI VỚI LIÊN DOANH
Căn cứ Luật thuế lợi tức được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khoá VIII.
Căn cứ Nghị định số 28-HĐBT ngày 22-3-1989 của HĐBT ban hành Điều lệ xí nghiệp liên doanh và Nghị định số 28-HĐBT ngày 6-2-1991 của HĐBT quy định chi tiết thi hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Để bảo đảm sự đóng góp công bằng giữa các tổ chức kinh tế có hoạt động liên doanh và tránh tinh thuế trùng, Bộ Tài chính hướng dẫn tính thuế lợi tức đối với các tổ chức kinh tế trong nước có lợi tức hoạt động liên doanh như sau:
1. Các tổ chức kinh tế góp vốn thành lập xi nghiệp liên doanh, theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, nếu được chia lợi tức từ hoạt động liên doanh phải kê khai số lợi tức được chia và không phải nộp thuế lợi tức theo thuế suất áp dụng đối với doanh nghiệp trong nước.
2. Đối với các tổ chức kinh tế trong nước góp vốn, thành lập xi nghiệp liên doanh có tư cách pháp nhân, hạch toán kinh tế độc lập, nếu được chia lợi tức từ hoạt động liên doanh vẫn phải kê khai, nhưng không coi là lợi tức phụ, không phải cộng vào lợi tức chịu thuế của đơn vị để tính thuế lần nữa .
3. Đối với các tổ chức kinh tế liên doanh với nước ngoài theo hợp đồng.
Theo quy định tại điểm a Điều 19 Nghị định số 28-HĐBT ngày 6-2-1991 của HĐBT quy định chi tiết thi hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thì: Lợi tức được chia phải kê khai, nộp thuế lợi tức theo Luật thuế áp dụng đối với doanh nghiệp trong nước,
Vì vậy, các tổ chức kinh tế trong nước có hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng với nước ngoài phải kê khai và nộp thuế lợi tức theo suất quy định trong luật thuế lợi tức.
4. Trường hợp các tổ chức kinh tế trong nước liên doanh với nhau trên cơ sở hợp đông thì thuế lợi tức được tính trên toàn bộ kết quả Tài chính và do đơn vị đứng ra lấy danh nghĩa giao dịch (dấu, tài khoản...)chịu trách nhiệm kê khai và nộp cho cơ quan thuế Sở tại trước khi phân chia lợi tức.
Sau khi đã nộp thuế lợi tức, tổ chức kinh tế được chia lợi tức liên doanh vẫn phải kê khai với cơ quan thuế nhưng không coi là lợi tức phụ để tính thuế lợi tức của cả đơn vị.
5. Tổ chức kinh tế có tham gia các hoạt động liên doanh phải khai báo với cơ quan thuế về số vốn góp liên doanh, ngành nghề liên doanh, mở và giữ sổ sách kế toán theo dõi các hoạt động kinh tế liên quan đến hoạt động liên doanh phải xuất trình những sổ sách, tài liệu liên quan khi cơ quan thuế yêu cầu.
Những quy định này được thi hành từ 1-1-1991.
Trong quá trình thực hiện, nếu vướng mắc thì phản ánh về Bộ Tài chính để nghiên cứu, hướng dẫn thêm.
|
| Phan Văn Dĩnh (Đã ký) |
Công văn về việc tính thuế lợi tức đối với liên doanh
- Số hiệu: 1152-TC/TCT
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 22/08/1991
- Nơi ban hành: Bộ Tài chính
- Người ký: Phan Văn Dĩnh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 22/08/1991
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
