Công văn về việc tính thời gian công tác cho cán bộ, viên chức có thời gian giữ chức vụ tại Ban công an xã hướng dẫn chi tiết về việc ghi nhận, cộng dồn và quy đổi thời gian công tác đối với các đối tượng từng giữ các chức danh trong Ban công an xã trước khi được tuyển dụng, điều động hoặc chuyển sang làm cán bộ, công chức, viên chức tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Văn bản áp dụng đối với cán bộ, viên chức đang làm việc trong các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, trước đó đã có thời gian giữ các chức danh thuộc Ban công an xã bao gồm: Trưởng Công an xã, Phó trưởng Công an xã và Công an viên thường trực tại xã.
Các nội dung hướng dẫn cốt lõi
1. Nguyên tắc tính thời gian công tác để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội
- Thời gian giữ chức vụ Trưởng Công an xã, Phó trưởng Công an xã và Công an viên được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã hội để làm cơ sở tính hưởng các chế độ hưu trí, tử tuất nếu đối tượng đã thực hiện đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của pháp luật qua các thời kỳ.
- Đối với các giai đoạn công tác trước khi Luật Bảo hiểm xã hội có hiệu lực, việc ghi nhận thời gian công tác liên tục để tính hưởng bảo hiểm xã hội được thực hiện theo các quy định đặc thù của Chính phủ và hướng dẫn của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, đảm bảo quyền lợi liên tục cho người lao động khi chuyển đổi mô hình công tác.
2. Xác định thời gian công tác để xếp lương và nâng bậc lương
- Thời gian giữ chức vụ tại Ban công an xã nếu có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc và có tính chất công việc phù hợp, tương đồng với vị trí việc làm hiện tại của viên chức, cán bộ thì được xem xét tính vào thời gian để làm căn cứ xếp lương khi tuyển dụng lần đầu.
- Trường hợp cán bộ, viên chức có thời gian công tác gián đoạn hoặc chuyển tiếp từ các chức danh tự quản, bán chuyên trách tại xã sang làm viên chức, việc cộng dồn thời gian để tính thời hạn nâng bậc lương định kỳ phải tuân thủ điều kiện không vi phạm kỷ luật và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao trong suốt thời gian giữ chức vụ tại Ban công an xã.
3. Thành phần hồ sơ làm căn cứ xác định thời gian công tác
- Quyết định bổ nhiệm, quyết định tuyển dụng hoặc văn bản phê duyệt chức danh của Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền đối với chức vụ tại Ban công an xã.
- Sổ bảo hiểm xã hội hoặc các giấy tờ, tờ rời xác nhận quá trình đóng bảo hiểm xã hội hợp lệ do cơ quan Bảo hiểm xã hội cấp.
- Sơ yếu lý lịch cán bộ, công chức, viên chức có xác nhận của cơ quan quản lý trực tiếp, thể hiện rõ quá trình công tác liên tục, không bị gián đoạn hoặc bị kỷ luật buộc thôi việc.
Hướng dẫn tổ chức thực hiện
Các cơ quan, đơn vị có thẩm quyền quản lý cán bộ, viên chức có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với cơ quan Bảo hiểm xã hội và các đơn vị liên quan tiến hành rà soát, đối chiếu hồ sơ gốc của người lao động. Việc tính toán và quy đổi thời gian công tác phải được thực hiện khách quan, chính xác, đúng quy định pháp luật nhằm bảo đảm tối đa quyền lợi chính đáng cho cán bộ, viên chức.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ LAO ĐỘNG, THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 17/HT | Hà Nội, ngày 04 tháng 1 năm 1978 |
CÔNG VĂN
CỦA BỘ THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI SỐ 17/HT NGÀY 4 THÁNG 1 NĂM 1978 VỀ VIỆC TÍNH THỜI GIAN CÔNG TÁC CHO CBVC CÓ THỜI GIAN GIỮ CHỨC VỤ BAN CÔNG AN XÃ
| Kính gửi: | - Các Bộ, các cơ quan, đoàn thể trung ương |
Thông tư Liên Bộ Nội vụ - Thương binh và Xã hội số 2-TT/LB ngày 21/2/1977 hướng dẫn thi hành quyết định số 47-CP ngày 21/2/1975 của Hội đồng Chính phủ về chế độ đãi ngộ đối với cán bộ, chiến sĩ công an bị thương, về hưu, nghỉ việc vì mất sức lao động và chết có điểm quy định: "Thời gian mà thoát ly của Ban Công an xã, tiếp sau đó được tuyển vào biên chế ngành công an cũng được tính là thời gian công tác liên tục".
Để phù hợp với điểm 15 của Thông tư số 13/NV ngày 4-9-1972 của Bộ Nội vụ (nay là Bộ Thương binh và Xã hội), đã quy định việc tính thời gian công tác đối với công nhân, viên chức có thời gian công tác nửa thoát ly ở xã, sau khi đã thống nhất ý kiến với Bộ Nội vụ, đính chính lại điểm trên của thông tư Liên Bộ số 02/TT/LB ngày 21/2/1977 như sau:
"Công nhân, viên chức có thời gian là Trưởng, Phó Công an xã, tiếp sau đó được vào biên chế của Nhà nước hay vào bộ đội thì thời gian ở Ban Công an xã được tính là thời gian công tác liên tục".
Quy định này được thi hành kể từ ngày 1-1-1975 như đã ghi ở quyết định số 47/CP của Hội đồng Chính phủ. Nếu có trường hợp cán bộ, công nhân, viên chức, quân nhân về hưu, nghỉ mất sức lao động hoặc chết từ sau ngày đó, trước đây có thời gian công tác ở Ban Công an xã mà chưa được tính, thì các Sở, Ty Thương binh và Xã hội (nơi đương sự cư trú) sẽ tính lại để điều chỉnh lại sổ trợ cấp cho đương sự.
|
| Nguyễn Kiện (Đã ký) |
- 1Thông tư 13/NV-1972 hướng dẫn và quy định cụ thể về tính thời gian công tác của công nhân, viên chức nhà nước do Bộ nội vụ ban hành
- 2Quyết định 47-CP năm 1975 về quản lý đối với ngành Công an nhân dân và về chính sách, chế độ đãi ngộ đối với cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân do Hội đồng chính phủ ban hành
Công văn về việc tính thời gian công tác cho Cán bộ viên chức có thời gian giữ chức vụ Ban công an xã
- Số hiệu: 17/HT
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 04/01/1978
- Nơi ban hành: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
- Người ký: Nguyễn Kiện
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 04/01/1978
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
