Công văn hướng dẫn về thẩm quyền ký kết hợp đồng kinh tế và các trường hợp hợp đồng kinh tế bị vô hiệu do người ký không đúng thẩm quyền. Văn bản tập trung làm rõ các quy định pháp lý liên quan đến đại diện theo pháp luật, đại diện theo ủy quyền và hậu quả pháp lý khi hợp đồng vô hiệu nhằm bảo đảm tính thống nhất trong quá trình áp dụng pháp luật và giải quyết tranh chấp.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Văn bản áp dụng đối với các cơ quan tài phán, tòa án các cấp, các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân tham gia vào quá trình xác lập, thực hiện giao dịch và giải quyết tranh chấp liên quan đến hợp đồng kinh tế bị vô hiệu do vi phạm thẩm quyền ký kết.
Quy định về thẩm quyền ký kết hợp đồng kinh tế
- Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có thẩm quyền nhân danh doanh nghiệp ký kết các hợp đồng kinh tế trong phạm vi quyền hạn được quy định tại Điều lệ công ty và pháp luật liên quan.
- Người đại diện theo ủy quyền chỉ được thực hiện việc ký kết hợp đồng trong phạm vi nội dung, thời hạn được xác định rõ ràng trong văn bản ủy quyền hợp pháp.
- Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản và tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Các trường hợp hợp đồng kinh tế vô hiệu do vi phạm thẩm quyền
- Hợp đồng do người không có quyền đại diện (không phải đại diện theo pháp luật và không có ủy quyền hợp pháp) xác lập, thực hiện.
- Hợp đồng do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện được quy định tại Điều lệ doanh nghiệp hoặc văn bản ủy quyền.
- Hợp đồng được ký kết bởi người đại diện theo ủy quyền nhưng tại thời điểm ký kết, văn bản ủy quyền đã hết hiệu lực hoặc bị chấm dứt trước thời hạn.
Trường hợp ngoại lệ hợp đồng vẫn có hiệu lực pháp lý
- Người được đại diện (doanh nghiệp) đã công nhận hợp đồng thông qua các hành vi cụ thể như: thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ thanh toán, tiếp nhận hàng hóa, dịch vụ mà không có ý kiến phản đối.
- Người được đại diện biết mà không phản đối trong một thời hạn hợp lý kể từ khi biết giao dịch được xác lập.
- Người được đại diện có lỗi dẫn đến việc bên liên kết giao dịch tin tưởng một cách hợp pháp rằng người ký kết có đầy đủ thẩm quyền đại diện.
Hậu quả pháp lý khi hợp đồng kinh tế bị tuyên vô hiệu
- Hợp đồng vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao kết.
- Các bên có nghĩa vụ khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Trong trường hợp không thể hoàn trả bằng hiện vật thì phải trị giá thành tiền để hoàn trả.
- Bên có lỗi gây ra thiệt hại dẫn đến hợp đồng bị vô hiệu phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình theo quy định của pháp luật.
Hiệu lực thi hành
Văn bản hướng dẫn này có hiệu lực áp dụng ngay nhằm tháo gỡ các vướng mắc thực tiễn, tạo cơ sở pháp lý đồng bộ cho việc xem xét, đánh giá hiệu lực của hợp đồng kinh tế khi xảy ra tranh chấp về thẩm quyền người ký.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 46/KHXX | Hà Nội, ngày 17 tháng 5 năm 1997 |
CÔNG VĂN
CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 46/KHXX NGÀY 17 THÁNG 5 NĂM 1997 VỀ VIỆC THẨM QUYỀN XỬ LÝ HỢP ĐỒNG KINH TẾ VÔ HIỆU
Kính gửi: Uỷ ban nhân dân quận Ba Đình - Hà Nội
Sau khi nghiên cứu nội dung Công văn số 305/CV-UB ngày 14-5-1997 của Uỷ ban nhân dân quận Ba Đình. Toà án nhân dân tối cao trả lời như sau:
Theo quy định tại khoản 3 Điều 8 Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế được Hội đồng Nhà nước thông qua ngày 25-9-1989, thì việc kết luận hợp đồng kinh tế là vô hiệu toàn bộ hoặc từng phần thuộc thẩm quyền của Trọng tài kinh tế. Nhưng theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức Toà án nhân dân được Quốc hội thông qua ngày 28-12-1993 và theo tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị số 136/TTg ngày 1-4-1994 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thực hiện Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức Toà án nhân dân, thì từ ngày 1-7-1994 hệ thống cơ quan trọng tài kinh tế Nhà nước chấm dứt hoạt động, đồng thời theo quy định của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 16-3-1994 thì các quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm pháp luật hợp đồng kinh tế của Trọng tài kinh tế không còn có hiệu lực thi hành và giao thẩm quyền giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế cho Toà án nhân dân. Tuy nhiên, Toà án là cơ quan xét xử không có chức năng quản lý nhà nước nên không thể tự mình kiểm tra và tuyên bố hợp đồng vô hiệu như Trọng tài kinh tế trước đây. Theo nội dung hướng dẫn tại điểm b mục 2 Công văn số 11/KHXX ngày 23-1-1996 của Toà án nhân dân tối cao, thì các hợp đồng kinh tế bị coi là vô hiệu khi xảy ra tranh chấp Toà án nhân dân thụ lý giải quyết theo thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế và áp dụng quy định về xử lý hợp đồng kinh tế vô hiệu tại Điều 39 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế để giải quyết.
Theo các quy định và hướng dẫn trên đây, Toà án nhân dân xử lý các hợp đồng kinh tế vô hiệu khi nào xảy ra tranh chấp mà các bên khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết.
Đối với trường hợp Công ty sản xuất và dịch vụ xuất nhập khẩu Ba Đình ký với Công ty trách nhiệm hữu hạn dịch vụ - xuất khẩu Châu Á (SEPROMEX) hợp đồng hợp tác kinh doanh ngày 25-4-1996 mà vi phạm pháp luật thì hai bên phải gặp nhau để huỷ bỏ hợp đồng, nếu các bên không tự giải quyết được thì làm đơn yêu cầu Toà án nhân dân thành phố Hà Nội giải quyết theo thẩm quyền.
|
| Trịnh Hồng Dương (Đã ký) |
- 1Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 do Hội đồng Nhà nước ban hành
- 2Luật Tổ chức Toà án nhân dân sửa đổi 1993
- 3Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994
- 4Chỉ thị 136-TTg năm 1994 thực hiện Luật Tổ chức Toà án nhân dân Sửa đổi do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 5Công văn hướng dẫn Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế
Công văn về việc thẩm quyền ký hợp đồng kinh tế vô hiệu
- Số hiệu: 46/KHXX
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 17/05/1997
- Nơi ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
- Người ký: Trịnh Hồng Dương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 17/05/1997
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
