Công văn về việc tạm giải toả cưỡng chế (hiện chưa rõ số hiệu, cơ quan ban hành và ngày ban hành) quy định về các thủ tục, điều kiện và thẩm quyền liên quan đến việc tạm dừng, giải tỏa các biện pháp cưỡng chế đang được áp dụng đối với các đối tượng theo quy định của pháp luật.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Văn bản áp dụng đối với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thi hành quyết định cưỡng chế, các tổ chức, cá nhân đang chấp hành quyết định cưỡng chế và các cơ quan, tổ chức khác có liên quan đến việc thực hiện biện pháp cưỡng chế hoặc giải tỏa cưỡng chế.
Nội dung cốt lõi của các điều khoản đầu (Từ Điều 1 đến Điều 4)
- Cơ sở pháp lý và nguyên tắc áp dụng: Xác định các căn cứ pháp luật làm cơ sở cho việc tạm giải tỏa cưỡng chế, đảm bảo tính hợp pháp, khách quan và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan trong quá trình thi hành quyết định cưỡng chế.
- Thẩm quyền quyết định tạm giải tỏa cưỡng chế: Quy định rõ ràng về cơ quan, cá nhân có thẩm quyền ra quyết định tạm giải tỏa cưỡng chế đối với từng trường hợp cụ thể, tránh việc chồng chéo hoặc lạm quyền trong thực thi công vụ.
- Điều kiện để được tạm giải tỏa cưỡng chế: Thiết lập các tiêu chuẩn, điều kiện cần thiết mà đối tượng bị cưỡng chế phải đáp ứng hoặc các tình huống khách quan phát sinh dẫn đến việc cần thiết phải tạm dừng biện pháp cưỡng chế.
- Trình tự và thủ tục thực hiện: Hướng dẫn các bước nộp hồ sơ, xem xét, thẩm định và ban hành quyết định tạm giải tỏa cưỡng chế nhằm đảm bảo tính kịp thời và đúng quy định pháp luật.
Hiệu lực thi hành
Hiện tại, thông tin về ngày áp dụng và tình trạng hiệu lực của văn bản này chưa được xác định cụ thể. Các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan cần theo dõi các văn bản hướng dẫn hoặc sửa đổi bổ sung tiếp theo từ cơ quan ban hành để thực hiện đúng quy định.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| TỔNG CỤC HẢI QUAN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 2268/TCHQ-KTTT | Hà Nội, ngày 28 tháng 4 năm 1999 |
CÔNG VĂN
CỦA TỔNG CỤC HẢI QUAN SỐ 2268/TCHQ-KTTT NGÀY 28 THÁNG 4 NĂM 1999 VỀ VIỆC TẠM GIẢI TOẢ CƯỠNG CHẾ
Kính gửi: Cục hải quan các tỉnh, thành phố
Sau 4 tháng thực hiện các Luật thuế mới, nhìn chung các doanh nghiệp đã chấp hành nghiêm chỉnh việc nộp thuế theo luật định. Tuy nhiên, một số do có khó khăn về vốn, về thị trường tiêu thụ, về khả năng vay ngân hàng nên dẫn đến việc không đảm bảo thời hạn nộp thuế, đặc biệt là đối với các mặt hàng tiêu dùng, hàng của các doanh nghiệp nhập khẩu phục vụ an ninh quốc phòng. Để tạo điều kiện thông thoáng hàng hoá và giúp đỡ hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của doanh nghiệp. Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan chỉ đạo:
1. Đối với doanh nghiệp có nợ thuế hàng kinh doanh xuất nhập khẩu quá thời hạn quy định (hàng xuất khẩu: 15 ngày, hàng nhập khẩu: 30 ngày, hàng tiêu dùng: nộp thuế ngay).
- Tạm thời chưa thực hiện cưỡng chế đối với: các lô hàng (tờ khai) hàng xuất khẩu, tạo điều kiện tối đa cho hàng xuất khẩu.
- Tạm thời chưa thực hiện cưỡng chế đối với hàng nhập khẩu là: Thuốc bảo vệ thực vật, vác xin, huyết thanh với điều kiện doanh nghiệp phải nộp đủ thuế nhập khẩu (nếu có) trước khi giải phóng hàng.
- Tạm thời không thực hiện cưỡng chế những lô hàng nhập khẩu khi doanh nghiệp xuất trình bản chính và nộp bản photocopi chứng minh để nộp tiền thuế cho lô hàng bị cưỡng chế qua ngân hàng, qua Kho bạc nhưng đang trong thời gian tiền luân chuyển vào tài khoản của hải quan.
- Tạm thời chưa thực hiện cưỡng chế làm thủ tục nhập khẩu lô hàng gia công, hàng liên doanh đầu tư không thuế, hàng thuộc nguồn vốn ODA, hàng nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu, hàng tạm nhập để tái xuất khẩu.
- Đối với doanh nghiệp nhập khẩu hàng phục vụ quốc phòng: nếu doanh nghiệp xuất trình được giấy phép của Bộ Thương mại xác nhận lô hàng doanh nghiệp xin làm thủ tục là hàng phục vụ quốc phòng, cùng giấy xác nhận nhập khẩu trang bị vật tư phục vụ quốc phòng của Cục vật tư (Bộ Quốc phòng) thì Cục Hải quan địa phương cho phép làm thủ tục nhập khẩu lô hàng đó.
2. Về thời điểm nộp thuế:
Đối với trường hợp doanh nghiệp nộp tiền thuế cho cơ quan hải quan qua ngân hàng, thời điểm nộp thuế được tính kể từ khi ngân hàng báo nợ cho doanh nghiệp để chuyển tiền cho hải quan nơi doanh nghiệp phải nộp thuế (giấy báo nợ phải có xác nhận của cấp có thẩm quyền của ngân hàng báo nợ. Đồng thời số tiền nộp thuế trên giấy báo nợ phải ghi đúng số tài khoản, chương, loại, khoản, hạng mục theo thông báo thuế cho số thuế phải nộp).
Trên đây là một số biện pháp tạm thời trong khi chờ xin ý kiến của Thủ tướng Chính phủ. Tổng cục thông báo để các đơn vị biết và thực hiện. Trong quá trình thực hiện nếu có gì vướng mắc cần báo cáo kịp thời để hướng dẫn trực tiếp.
|
| Nguyễn Ngọc Túc (Đã ký) |
Công văn về việc tạm giải toả cưỡng chế
- Số hiệu: 2268/TCHQ-KTTT
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 28/04/1999
- Nơi ban hành: Tổng cục Hải quan
- Người ký: Nguyễn Ngọc Túc
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 28/04/1999
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
