Công văn về việc quản lý các đơn vị kinh tế của Đảng và đoàn thể được ban hành nhằm mục tiêu tăng cường công tác quản lý, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời bảo toàn và phát triển nguồn vốn, tài sản thuộc sở hữu của Đảng và các tổ chức chính trị - xã hội.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Văn bản áp dụng đối với các cơ quan chuyên trách tham mưu, văn phòng cấp ủy các cấp; các tổ chức chính trị - xã hội (bao gồm Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Công đoàn, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh); và các doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp có thu, cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc quyền quản lý, đại diện chủ sở hữu của các cơ quan Đảng và đoàn thể.
Nguyên tắc quản lý các đơn vị kinh tế
- Bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất, toàn diện của Đảng và sự quản lý của Nhà nước đối với mọi hoạt động của các đơn vị kinh tế thuộc Đảng và đoàn thể.
- Thực hiện phân định rõ ràng giữa chức năng quản lý hành chính, quản lý nhà nước với chức năng đại diện chủ sở hữu vốn và hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
- Mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh phải hướng tới mục tiêu bảo toàn và phát triển vốn, đóng góp ngân sách cho hoạt động của Đảng và đoàn thể theo đúng quy định.
Cơ chế quản lý tài chính và tài sản
- Các đơn vị kinh tế phải xây dựng quy chế quản lý tài chính nội bộ, thực hiện chế độ báo cáo tài chính định kỳ và kiểm toán bắt buộc theo quy định của pháp luật.
- Việc phân phối lợi nhuận sau thuế phải ưu tiên trích lập các quỹ phát triển sản xuất, quỹ dự phòng tài chính và nộp về ngân sách Đảng, đoàn thể theo tỷ lệ quy định.
- Nghiêm cấm việc sử dụng tài sản, vốn của Đảng và đoàn thể để đầu tư vào các lĩnh vực rủi ro cao hoặc không phù hợp với tôn chỉ, mục đích hoạt động của tổ chức.
Sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động
- Tiến hành rà soát, phân loại các đơn vị kinh tế để thực hiện cơ cấu lại, cổ phần hóa, sáp nhập hoặc giải thể đối với các đơn vị hoạt động kém hiệu quả, thua lỗ kéo dài hoặc không cần thiết phải duy trì dưới hình thức doanh nghiệp Đảng, đoàn thể.
- Khuyến khích áp dụng các mô hình quản trị doanh nghiệp hiện đại, nâng cao năng lực cạnh tranh và tính minh bạch trong hoạt động của các đơn vị.
Công tác kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát định kỳ và đột xuất của các cơ quan chức năng thuộc Đảng và đoàn thể đối với việc quản lý, sử dụng vốn và tài sản tại các đơn vị kinh tế.
- Xử lý nghiêm minh, kịp thời các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm quy định về quản lý kinh tế, gây thất thoát, lãng phí tài sản của Đảng và đoàn thể.
Hiệu lực thi hành
Văn bản có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành. Các cơ quan Đảng, đoàn thể trung ương và địa phương có trách nhiệm phổ biến, quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc các nội dung hướng dẫn tại công văn này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| VĂN PHÒNG CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 283-CN | Hà Nội ngày 16 tháng 1 năm 1993 |
CÔNG VĂN
CỦA VĂN PHÒNG CHÍNH PHỦ SỐ 283-CN NGÀY 16-1-1993VỀ VIỆC QUẢN LÝ CÁC ĐƠN VỊ KINH TẾ CỦA ĐẢNG VÀ ĐOÀN THỂ
| Kính gửi : | - Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, |
Căn cứ kết luận tại cuộc họp ngày 7 tháng 1 năm 1993 do Văn phòng Chính phủ chủ trì có các đồng chí lãnh đạo Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính, Trọng tài kinh tế Nhà nước, Bộ Thương mại, Ban Tài chính - Quản trị Trung ương và các đại diện Bộ Tư pháp, Ban Kinh tế Trung ương tham gia bàn về cơ chế quản lý các đơn vị kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam và của các đoàn thể chính trị, Thủ tướng Chính phủ quyết định như sau :
1- Các tổ chức Đảng, đoàn thể chính trị (bao gồm : Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam và Liên hiệp các tổ chức hoà bình, đoàn kết, hữu nghị Việt Nam) ở cấp Trung ương và cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có quyền dùng tài sản, vốn thuộc sở hữu của mình và vốn do Nhà nước trợ cấp, để đầu tư vào sản xuất kinh doanh nhằm mục đích tạo viêc làm cho người lao động và thu lợi nhuận, góp phần trang trải kinh phí hoạt động của tổ chức Đảng, đoàn thể. Mọi hoạt động đầu tư sản xuất kinh doanh phải theo đúng pháp luật.
2- Thủ tục thành lập mới (hoặc thành lập lại) doanh nghiệp do các tổ chức Đảng, đoàn thể chính trị (sau đây gọi tắt là đoàn thể) đầu tư 100% vốn (bao gồm vốn thuộc sở hữu của Đảng hoặc đoàn thể - kể cả vốn tự bổ sung, vốn Nhà nước trợ cấp, vốn vay) được vận dụng theo những nguyên tắc đã quy định về thành lập và giải thể doanh nghiệp Nhà nước ban hành kèm theo Nghị định số 388-HĐBT, ngày 20 tháng 11 năm 1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) và các văn bản pháp quy hướng dẫn thực hiện Nghị định này.
Riêng về cơ quan sáng lập và Hội đồng thẩm định thì quy định như sau :
b) Tổ chức việc thẩm định hồ sơ :
- Nếu chuyển đổi, thành lập lại các doanh nghiệp đã được thành lập trước ngày ký ban hành công văn này thì Hội đồng thẩm định do Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính làm chủ tịch Hội đồng và gồm các Uỷ viên Hội đồng là Giám đốc Sở quản lý ngành kinh tế kỹ thuật, Giám đốc Sở tài chính, Giám đốc Ngân hàng, Chủ tịch Trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
- Nếu thành lập mới các doanh nghiệp thuộc cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì hồ sơ gửi về Hội đồng thẩm định của các Bộ quản lý ngành kinh tế - kỹ thuật; các doanh nghiệp thuộc cấp Trung ương thì hồ sơ gửi về Hội đồng thẩm định ở Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước. Việc thẩm định và xét thông báo cho phép thành lập doanh nghiệp được tiến hành như quy định trong Nghị định 388-HĐBT đối với thành lập doanh nghiệp Nhà nước.
4- Các doanh nghiệp in thuộc tổ chức Đảng sau khi được thành lập mới hoặc thành lập lại, tuìy theo trình độ trang bị công nghệ và năng lực sản xuất được thực hiện các nhiệm vụ về in ấn tài liệu, sách báo, các hoạt động dịch vụ của ngành in như các doanh nghiệp in thuộc Nhà nước.
5- Các doanh nghiệp thuộc các tổ chức Đảng, đoàn thể được thành lập đúng pháp luật, có tư cách pháp nhân và bình đẳng trước pháp luật như mọi doanh nghiệp khác trong nền kinh tế quốc dân, có nghĩa vụ nộp thuế theo luật định.
8- Các tổ chức kinh tế đang hoạt động thuộc các tổ chức Đảng, đoàn thể phải được sắp xếp, tổ chức lại theo nội dung trên đây trong thời hạn đến hết ngày 31 tháng 3 năm 1993.
9- Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện những nội dung quy định trong văn bản này.
|
| Lê Xuân Trinh (Đã ký)
|
- 1Nghị định 388-HĐBT năm 1991 về Quy chế thành lập và giải thể doanh nghiệp Nhà nước do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 2Thông tư liên tịch 23-TT/LB năm 1993 hướng dẫn cơ chế quản lý các đơn vị kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam và của các đoàn thể chính trị do Bộ Tài chính, Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước ban hành
- 3Công văn về đăng ký kinh doanh đối với doanh nghiệp đoàn thể
Công văn về việc quản lý các đơn vị kinh tế của Đảng và đoàn thể
- Số hiệu: 283-CN
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 16/01/1993
- Nơi ban hành: Văn phòng Chính phủ
- Người ký: Lê Xuân Trinh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 16/01/1993
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
