Công văn về việc người bị hại vắng mặt tại phiên toà phúc thẩm (chưa rõ số hiệu, cơ quan ban hành và ngày ban hành) là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng nhằm tháo gỡ các vướng mắc thực tiễn liên quan đến việc giải quyết vụ án hình sự khi người bị hại vắng mặt tại phiên tòa xét xử phúc thẩm.
Phạm vi và đối tượng áp dụng: Văn bản hướng dẫn áp dụng đối với các Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, người bị hại và người đại diện hợp pháp của người bị hại trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự theo thủ tục phúc thẩm.
Dưới đây là nội dung phân tích chi tiết các quy định cốt lõi tại Phần mở đầu và các điều khoản đầu tiên (từ Điều 1 đến Điều 4) của văn bản:
- Sự hiện diện của người bị hại tại phiên tòa phúc thẩm (Điều 1)
- Xác định nguyên tắc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại khi tham gia tố tụng tại giai đoạn phúc thẩm, đặc biệt là trong các vụ án có kháng cáo của chính người bị hại hoặc kháng nghị của Viện kiểm sát liên quan đến quyền lợi của họ.
- Tòa án cấp phúc thẩm có nghĩa vụ triệu tập hợp lệ người bị hại tham gia phiên tòa để họ thực hiện các quyền trình bày ý kiến, tranh luận và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
- Xử lý trường hợp người bị hại vắng mặt có lý do chính đáng hoặc trở ngại khách quan (Điều 2)
- Trường hợp người bị hại vắng mặt do gặp phải thiên tai, dịch bệnh, tai nạn, đau ốm nặng có xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền hoặc các trở ngại khách quan khác, Hội đồng xét xử phải xem xét hoãn phiên tòa nếu sự vắng mặt của họ ảnh hưởng trực tiếp đến việc làm sáng tỏ các tình tiết khách quan của vụ án.
- Nếu người bị hại vắng mặt nhưng trước đó đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng tại hồ sơ vụ án và việc vắng mặt này không gây ảnh hưởng đến việc xét xử, Hội đồng xét xử có thể quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
- Giải quyết trường hợp người bị hại vắng mặt không có lý do chính đáng (Điều 3)
- Đối với trường hợp người bị hại đã được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất nhưng vắng mặt không vì lý do chính đáng hoặc không do trở ngại khách quan, Tòa án có quyền quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử tùy thuộc vào tính chất, mức độ nghiêm trọng của vụ án và nội dung kháng cáo.
- Trường hợp người bị hại được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ tiến hành xét xử vắng mặt họ, trừ trường hợp người bị hại là người dưới 18 tuổi hoặc người có nhược điểm về thể chất, tâm thần mà không có người đại diện hợp pháp tham gia phiên tòa.
- Thẩm quyền và quyết định của Hội đồng xét xử phúc thẩm (Điều 4)
- Hội đồng xét xử phúc thẩm là cơ quan có thẩm quyền duy nhất đánh giá mức độ ảnh hưởng từ sự vắng mặt của người bị hại đối với việc giải quyết vụ án để đưa ra phán quyết hoãn phiên tòa hoặc tiếp tục xét xử.
- Mọi quyết định liên quan đến việc hoãn phiên tòa hoặc tiếp tục xét xử khi vắng mặt người bị hại phải được thảo luận tại phòng nghị án, ghi nhận đầy đủ vào biên bản phiên tòa và thông báo công khai cho các bên đương sự có mặt.
Hiệu lực thi hành: Do các thông tin về ngày ban hành, ngày có hiệu lực của văn bản chưa được xác định rõ ràng, các cơ quan tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng cần chủ động đối chiếu với các quy định tương ứng của Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành để bảo đảm áp dụng đúng tinh thần pháp luật.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 42/1998/KHXX | Hà Nội, ngày 21 tháng 4 năm 1998 |
CÔNG VĂN
CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 42/1998/KHXX NGÀY 21 THÁNG 4 NĂM 1998 VỀ VIỆC NGƯỜI BỊ HẠI VẮNG MẶT TẠI PHIÊN TOÀ PHÚC THẨM
Kính gửi: Toà án nhân dân tỉnh Bình Phước
Sau khi nghiên cứu Công văn số 20/CVTA ngày 6-3-1998 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Phước, Toà án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:
Tại Khoản 2 Điều 217 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: "Người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị được triệu tập tham gia phiên toà. Nếu có người vắng mặt mà có lý do chính đáng thì Hội đồng xét xử có thể vẫn tiến hành xét xử, nhưng không được ra bản án hoặc quyết định không có lợi cho bị cáo hoặc đương sự vắng mặt; trong các trường hợp khác thì phải hoãn phiên toàn".
Theo quy định trên thì nếu người bị hại có kháng cáo đã được triệu tập hợp lệ mà vắng mặt có lý do chính đáng (do ốm đau, do bị tai nạn hay gặp rủi ro khác mà không thể có mặt tại phiên toà phúc thẩm được), Toà án có thể xử vắng mặt người bị hại, nhưng không được ra bản án hoặc quyết định không có lợi cho họ; trong trường hợp Toà án thấy có thể ra bản án, quyết định theo hướng không có lợi cho người bị hại vắng mặt, thì phải hoãn phiên toà. Nếu người bị hại đã được triệu tập hợp lệ, không gặp khó khăn, trở ngại đến mức không thế có mặt theo giấy triệu tập được, mà cố tình vắng mặt, thì Toà án có quyền xét xử vắng mặt người bị hại, kể cả việc ra bản án, quyết định không có lợi cho họ.
Bản án phúc thẩm có lợi cho người bị hại có kháng cáo là bản án, quyết định theo hướng chấp nhận một phần hoặc toàn bộ kháng cáo của người bị hại, xử tăng hình phạt, tăng bồi thường đối với bị cáo, huỷ bản án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại theo hướng có lợi cho người bị hại. Trường hợp bản án phúc thẩm Quyết định bác toàn bộ kháng cáo của người bị hại, giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm không bị coi là trường hợp ra bản án không có lợi cho người bị hại.
Trong trường hợp nêu tại Công văn của Quý Toà, người bị hại kháng cáo đã ba lần được triệu tập tham gia phiên toà nhưng cả ba lần đều vắng mặt không rõ lý do và chính quyền địa phương xác nhận rằng họ đã bỏ địa phương đi đâu không rõ, cần được coi là trường hợp người bị hại vắng mặt không có lý do chính đáng, cố tình vắng mặt tại phiên toà. Vì vậy, trong trường hợp này Toà án cấp phúc thẩm có quyền xét xử vắng mặt người bị hại, kể cả việc ra bản án, quyết định không có lợi cho họ.
|
| Trịnh Hồng Dương (Đã ký) |
Công văn về việc người bị hại vắng mặt tại phiên toà phúc thẩm
- Số hiệu: 42/1998/KHXX
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 21/04/1998
- Nơi ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
- Người ký: Trịnh Hồng Dương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 21/04/1998
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
