Công văn hướng dẫn về việc giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù được ban hành nhằm thống nhất nhận thức và áp dụng pháp luật trong hoạt động xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù cho phạm nhân. Văn bản tập trung làm rõ các điều kiện, tiêu chuẩn, quy trình và thẩm quyền quyết định, bảo đảm tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa, đồng thời khuyến khích phạm nhân tích cực cải tạo, lao động và học tập để sớm tái hòa nhập cộng đồng.
Phạm vi áp dụng của văn bản bao gồm toàn bộ hoạt động lập hồ sơ, đề nghị, kiểm sát và quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù tại các cơ sở giam giữ trên cả nước. Đối tượng áp dụng trực tiếp là phạm nhân đang chấp hành án phạt tù có thời hạn hoặc tù chung thân; các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan quản lý và thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân các cấp.
- Điều kiện cơ bản để được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù
- Phạm nhân đã chấp hành được một phần ba thời hạn đối với hình phạt tù từ ba mươi năm trở xuống, hoặc đã chấp hành được mười hai năm đối với hình phạt tù chung thân.
- Có nhiều tiến bộ trong quá trình cải tạo, thể hiện qua việc chấp hành nghiêm chỉnh Nội quy cơ sở giam giữ, tích cực học tập, lao động cải tạo và có đủ các kỳ xếp loại thi đua từ khá trở lên theo quy định của pháp luật thi hành án hình sự.
- Đã thực hiện xong các nghĩa vụ dân sự như bồi thường thiệt hại, án phí hoặc các nghĩa vụ tài sản khác được ghi trong bản án, trừ trường hợp được người bị hại miễn giảm hoặc có hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn không thể thực hiện được và có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền.
- Mức giảm và giới hạn thời hạn chấp hành hình phạt tù còn lại
- Mỗi lần xét giảm, phạm nhân có thể được giảm từ 03 tháng đến 03 năm tù. Trường hợp phạm nhân lập công lớn hoặc đã quá già yếu, bị bệnh hiểm nghèo thì có thể được xét giảm với mức cao hơn nhưng phải tuân thủ đúng khung giới hạn pháp luật quy định.
- Mỗi năm, một phạm nhân chỉ được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù tối đa là một lần. Trường hợp sau khi được giảm thời hạn mà lại lập công hoặc bị bệnh hiểm nghèo thì có thể được xét giảm lần thứ hai trong cùng một năm.
- Dù được giảm nhiều lần, văn bản nhấn mạnh phải bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành hình phạt tù tối thiểu. Cụ thể, phạm nhân phải chấp hành ít nhất một phần hai mức hình phạt tù đã tuyên; hoặc mười lăm năm đối với hình phạt tù chung thân; trường hợp được giảm từ tù chung thân xuống tù có thời hạn thì thời gian thực tế chấp hành ít nhất phải là hai mươi năm.
- Quy trình, thủ tục lập hồ sơ và thẩm quyền quyết định
- Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng hoặc Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cấp quân khu có trách nhiệm thành lập Hội đồng và lập hồ sơ đề nghị giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù cho những phạm nhân đủ điều kiện.
- Hồ sơ đề nghị sau khi hoàn thiện phải được gửi đến Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc Tòa án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân đang chấp hành án, đồng thời gửi một bộ hồ sơ đến Viện kiểm sát cùng cấp để thực hiện chức năng kiểm sát theo quy định.
- Trong thời hạn quy định, Hội đồng xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù của Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc Tòa án quân sự cấp quân khu sẽ tiến hành phiên họp để xem xét, ra quyết định. Phiên họp bắt buộc phải có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp.
- Các trường hợp đặc biệt được ưu tiên hoặc áp dụng chính sách khoan hồng hơn
- Phạm nhân là người chưa thành niên (dưới 18 tuổi) khi phạm tội sẽ được áp dụng điều kiện thời gian đã chấp hành án ngắn hơn và mức xét giảm linh hoạt hơn so với người đã thành niên.
- Phạm nhân đã quá già yếu, người bị bệnh hiểm nghèo hoặc người có khuyết tật nặng, không tự phục vụ bản thân được và không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội sẽ được ưu tiên xem xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù sớm hơn.
- Phạm nhân lập công lớn trong quá trình chấp hành án như: cứu người, giúp cơ quan chức năng ngăn chặn tội phạm, có sáng kiến cải tiến kỹ thuật có giá trị lớn được cơ quan nhà nước công nhận.
Công văn này có hiệu lực áp dụng kể từ ngày ban hành, thay thế hoặc bổ sung cho các văn bản hướng dẫn trước đây của cơ quan có thẩm quyền về công tác xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù. Các quy định trong văn bản này được áp dụng thống nhất cho các kỳ xét giảm án định kỳ hàng năm (thường vào các dịp Lễ lớn của đất nước như Ngày Giải phóng miền Nam 30/4, Ngày Quốc khánh 2/9 và Tết Nguyên đán).
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 503/TATC | Hà Nội, ngày 15 tháng 8 năm 1994 |
CÔNG VĂN
CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 503/TATC NGÀY 15-8-1994 VỀ VIỆC GIẢM THỜI HẠN CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT TÙ.
Hàng năm vào dịp các ngày lễ lớn (Quốc khánh, tết nguyên đán) các Toà án xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù cho những người bị kết án đã cải tạo tốt. Nhìn chung việc xét giảm án cho những người bị kết án có đủ điều kiện được giảm theo quy định của pháp luật đã có tác dụng tốt, khuyến khích những người bị kết án khác yên tâm cải tạo. Tuy nhiên, qua kiểm tra công tác thi hành án hình sự ở các địa phương, Toà án nhân dân tối cao nhận thấy ở một số Toà án tỉnh đã có một số sai phạm cần rút kinh nghiệm và kiên quyết khắc phục như: Khi xét giảm án đã không nắm vững những quy định của pháp luật về điều kiện để được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù, đặc biệt không xem xét kỹ thái độ cải tạo của người đang chấp hành hình phạt tù mà chỉ căn cứ vào đề nghị của Trại cải tạo và đề nghị của Viện kiểm sát nên có một số người phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng bị xử phạt từ 10 năm tù đến tù chung thân, trong thời hạn cải tạo đã bị kỷ luật nhiều lần, nhưng khi đề nghị xét giảm án Trại cải tạo không báo cáo đầy đủ về những lần bị kỷ luật đó nên Toà án đã giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù cho người không cải tạo tốt, hoặc có trường hợp người bị kết án được đề nghị giảm lần đầu nhưng không có lý do đáng được khoan hồng thêm như lập công, đã quá già yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo (khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự) nhưng Toà án đã giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù cho họ vào thời gian sớm hơn so với thời gian quy định tại Điều 49 Bộ luật Hình sự (Chưa đủ 1/3 thời hạn tù đối với người bị phạt tù có thời hạn, chưa đủ 10 năm đối với người bị phạt tù chung thân). Cá biệt có nơi khi xét giảm án tù đã không lập Hội đồng gồm 2 Thẩm phán mà chỉ có Chánh án ra quyết định giảm án theo đề nghị của Trại cải tạo và Viện kiểm sát.
Để thi hành các quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự về giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù cho những người bị kết án đang cải tạo cần nắm vững quy định tại các điều 49, 51 Bộ luật Hình sự và Thông tư liên ngành số 04/89/TTLN này 15-8-1989 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ hướng dẫn về giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù. Cụ thể là:
a) Đã chấp hành được 1/3 (một phần ba) thời hạn hình phạt. Nếu bị phạt tù chung thân thì đã chấp hành hình phạt được 10 (mười) năm.
b) Đã chứng tỏ quyết tâm cải tạo, thể hiện là thật thà hối lỗi, tích cực lao động, học tập, nghiêm chỉnh chấp hành chế độ, nội quy của Trại cải tạo.
Trong trường hợp đặc biệt người bị kết án đã lập công như tố cáo, giúp Trại cải tạo hoặc cơ quan điều tra phát hiện tội phạm, có sáng kiến hoặc cải tiến kỹ thuật có giá trị trong sản xuất, cứu được tính mạng người khác trong tình thế hiểm nghèo, cứu được tài sản của Nhà nước, của tập thể hoặc của công dân khi có bão lụt, hoả hoạn v.v...
Người bị kết án đã quá già yếu hoặc đang mắc bệnh hiểm nghèo (từ 70 tuổi trở lên hoặc trên 60 tuổi thường xuyên ốm yếu mắc bệnh rất nguy hiểm đến tính mạng như lao nặng, ung thư, bại liệt...) thì được xét sớm hơn và mức cao hơn nhưng phải bảo đảm người bị kết án phải chấp hành được 1/4 (một phần tư) thời hạn của hình phạt, nếu bị phạt tù chung thân thì ít nhất cũng đã cải tạo ở trại cải tạo được 8 năm mới được xét giảm lần đầu. Mức giảm cao nhất mỗi lần có thể là 4 năm, nhưng phải bảo đảm thời gian thực sự chấp hành hình phạt ít nhất là 2/5 (hai phần năm) nếu bị phạt tù chung thân thì thời gian đã thực sự chấp hành hình phạt ít nhất là 10 (mười) năm.
Các Toà án cần nghiên cứu nắm vững những quy định nói trên, đảm bảo việc xét giảm án trong dịp 2-9 sắp tới được đúng pháp luật.
|
|
|
- 1Thông tư liên tịch 04/2018/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC về quy định phối hợp thực hiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về tha tù trước thời hạn có điều kiện do Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành
- 2Công văn 2399/BCA-C81 năm 2017 về việc thực hiện Đề án triển khai thực hiện tha tù trước thời hạn có điều kiện do Bộ Công an ban hành
- 1Bộ luật Hình sự 1985
- 2Bộ luật tố tụng hình sự 1988
- 3Thông tư liên tịch 04-TTLN năm 1989 về việc giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù do Toà án nhân dân tối cao- Viện kiểm sát nhân dân tối cao- Bộ Nội vụ- Bộ Tư pháp ban hành
- 4Thông tư liên tịch 04/2018/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC về quy định phối hợp thực hiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về tha tù trước thời hạn có điều kiện do Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành
- 5Công văn 2399/BCA-C81 năm 2017 về việc thực hiện Đề án triển khai thực hiện tha tù trước thời hạn có điều kiện do Bộ Công an ban hành
Công văn về việc giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù
- Số hiệu: 503/TATC
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 15/08/1994
- Nơi ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
- Người ký:
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 15/08/1994
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
