Công văn về việc điều kiện giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù và truy nã đối với bị cáo được ban hành nhằm hướng dẫn và giải đáp các vướng mắc nghiệp vụ trong quá trình xét xử và thi hành án hình sự. Văn bản tập trung làm rõ các điều kiện pháp lý để người bị kết án được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù, đồng thời hướng dẫn quy trình, thủ tục truy nã đối với bị cáo bỏ trốn trong giai đoạn chuẩn bị xét xử.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Văn bản áp dụng đối với Tòa án nhân dân các cấp, cơ quan thi hành án hình sự, Viện kiểm sát nhân dân, bị cáo đang bị truy nã, và phạm nhân đang chấp hành hình phạt tù tại các cơ sở giam giữ. Nội dung hướng dẫn bảo đảm sự thống nhất trong việc áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự.
Điều kiện giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù
Văn bản hướng dẫn chi tiết các tiêu chuẩn để một phạm nhân được đề nghị giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù, bao gồm:
- Thời gian đã chấp hành hình phạt: Phạm nhân phải chấp hành được một phần ba thời hạn đối với hình phạt tù từ ba mươi năm trở xuống, hoặc mười hai năm đối với hình phạt tù chung thân.
- Thái độ cải tạo và chấp hành nội quy: Có nhiều tiến bộ trong quá trình cải tạo, được xếp loại thi đua chấp hành án phạt tù từ mức khá trở lên.
- Thực hiện nghĩa vụ dân sự: Đã bồi thường xong các khoản nghĩa vụ dân sự, án phí hoặc các nghĩa vụ tài chính khác theo bản án của Tòa án, trừ trường hợp được miễn giảm theo quy định của pháp luật hoặc có lý do bất khả kháng.
- Trường hợp lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo: Người lập công dâng hiến, người đã quá già yếu hoặc bị bệnh hiểm nghèo có thể được xem xét giảm thời hạn sớm hơn hoặc với mức giảm cao hơn theo quy định đặc biệt.
Quy định về truy nã đối với bị cáo
Đối với công tác truy nã bị cáo trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, văn bản làm rõ các nội dung trọng tâm sau:
- Căn cứ ra quyết định truy nã: Tòa án ra quyết định truy nã khi có đầy đủ căn cứ xác định bị cáo đã bỏ trốn hoặc không biết bị cáo đang ở đâu, sau khi đã áp dụng các biện pháp xác minh, tống đạt hợp lệ nhưng không có kết quả.
- Thủ tục tạm đình chỉ vụ án: Sau khi ra quyết định truy nã bị cáo, Tòa án tiến hành tạm đình chỉ vụ án đối với bị cáo đó cho đến khi bắt được hoặc bị cáo ra đầu thú. Việc tạm đình chỉ này bảo đảm không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án đối với các bị cáo khác trong cùng vụ án.
- Trách nhiệm phối hợp: Quy định rõ trách nhiệm phối hợp giữa Tòa án và Cơ quan điều tra trong việc tống đạt quyết định truy nã, tổ chức truy bắt và tiếp nhận bị cáo khi bị bắt giữ hoặc đầu thú.
Mối liên hệ giữa hành vi bỏ trốn, truy nã và việc xét giảm án
Văn bản nhấn mạnh việc đánh giá thái độ chấp hành pháp luật của người phạm tội:
- Hành vi bỏ trốn và bị truy nã thể hiện thái độ không tự giác chấp hành pháp luật, gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố, xét xử.
- Người có hành vi bỏ trốn sau khi bị bắt giữ hoặc đầu thú phải trải qua quá trình thử thách, cải tạo nghiêm ngặt và chỉ được xem xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù khi đã thực sự ăn năn hối cải, tích cực cải tạo và đáp ứng đầy đủ các điều kiện khắt khe theo quy định.
Hiệu lực thi hành
Văn bản có hiệu lực hướng dẫn áp dụng thống nhất kể từ ngày ban hành. Các cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan thi hành án hình sự có trách nhiệm quán triệt, thực hiện nghiêm túc các hướng dẫn này nhằm bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời khuyến khích người phạm tội tích cực cải tạo để sớm tái hòa nhập cộng đồng.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 73/1999/KHXX | Hà Nội, ngày 16 tháng 7 năm 1999 |
CÔNG VĂN
CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 73/1999/KHXX NGÀY 16 THÁNG 7 NĂM 1999 VỀ VIỆC ĐIỀU KIỆN GIẢM THỜI HẠN CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT TÙ VÀ TRUY NÃ ĐỐI VỚI VỊ CÁO
Kính gửi: Toà án nhân dân tỉnh Quảng Trị
Sau khi nghiên cứu Công văn số 482/CV-TA ngày 9-6-1999 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Trị, Toà án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:
1. Tại Điểm 2 Mục III Thông tư liên ngành số 04-89/TTLN ngày 15-8-1989 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ "về việc giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù", có hướng dẫn: "Nói chung, mỗi người, mỗi năm chỉ được xét giảm một lần. Tuy nhiên, nếu sau khi được giảm án mà có lý do đặc biệt đáng được khoan hồng thêm như lập công lớn, mắc bệnh hiểm nghèo, thì có thể được xét giảm thêm một lần trong năm đã được giảm". Cụm từ "mỗi năm" trong hướng dẫn này cần được hiểu là tính theo lịch (năm 1998, năm 1999), chứ không phải mỗi năm được tính tròn 12 tháng kể từ lần giảm thứ nhất đến lần xét giảm thứ hai. Tuy nhiên cần lưu ý là khi xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù các Toà án cần phải thực hiện đúng các hướng dẫn về điều kiện và mức giảm được hướng dẫn tại Mục III Thông tư liên ngành nói trên.
2. Theo tinh thần quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, cũng như tinh thần hướng dẫn trong Thông tư liên ngành số 03/TTLN ngày 7-1-1995 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ, thì thẩm quyền ra quyết định truy nã và đình nã là cơ quan điều tra. Quyết định truy nã chỉ hết hiệu lực khi người bị truy nã đã chết hoặc bị bắt giữ theo Quyết định truy nã hoặc trong trường hợp có quyết định đình nã của cơ quan điều tra; do đó, khi bản án của Toà án có hiệu lực pháp luật, Toà án không cần phải yêu cầu cơ quan điều tra tiếp tục ra Quyết định truy nã mới. Tuy nhiên, cần lưu ý là khi xét xử, xét thấy việc truy nã bị cáo vì hành vi phạm tội đang bị xét xử là không cần thiết nữa, thì Toà án yêu cầu cơ quan điều tra ra quyết định đình nã đối với bị cáo, nếu bị cáo đó không bị truy nã về hành vi phạm tội khác.
|
| Trịnh Hồng Dương (Đã ký) |
- 1Nghị quyết số 11-NQ/HĐNN8 về việc tha giảm thời hạn chấp hành hình phạt cho những người bị phạt tù nhân dịp Quốc khánh 02/09/1987 do Hội đồng Nhà nước ban hành
- 2Thông tư liên tịch 13/2012/TTLT-BCA-BTP-VKSNDTC-TANDTC hướng dẫn quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và Luật thi hành án hình sự về truy nã do Bộ Công an - Bộ Tư pháp - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao ban hành
- 1Nghị quyết số 11-NQ/HĐNN8 về việc tha giảm thời hạn chấp hành hình phạt cho những người bị phạt tù nhân dịp Quốc khánh 02/09/1987 do Hội đồng Nhà nước ban hành
- 2Thông tư liên ngành 03/TTLN năm 1995 hướng dẫn việc truy nã bị can, bị cáo trong giai đoạn truy tố và xét xử do Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ ban hành
- 3Thông tư liên tịch 04-TTLN năm 1989 về việc giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù do Toà án nhân dân tối cao- Viện kiểm sát nhân dân tối cao- Bộ Nội vụ- Bộ Tư pháp ban hành
- 4Thông tư liên tịch 13/2012/TTLT-BCA-BTP-VKSNDTC-TANDTC hướng dẫn quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và Luật thi hành án hình sự về truy nã do Bộ Công an - Bộ Tư pháp - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao ban hành
Công văn về việc điều kiện giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù và truy nã đối với bị cáo
- Số hiệu: 73/1999/KHXX
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 16/07/1999
- Nơi ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
- Người ký: Trịnh Hồng Dương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 16/07/1999
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
