Công văn về thẩm quyền giải quyết một số tranh chấp cụ thể (hiện chưa rõ số hiệu, cơ quan ban hành và ngày ban hành) là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng nhằm tháo gỡ các vướng mắc thực tiễn, thống nhất nhận thức pháp luật trong việc xác định thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân các cấp đối với các loại tranh chấp dân sự, kinh doanh thương mại, lao động và đất đai.
Phạm vi điều chỉnh và Đối tượng áp dụng
Văn bản tập trung hướng dẫn việc xác định thẩm quyền giải quyết các vụ án cụ thể phát sinh trong thực tế tố tụng. Đối tượng áp dụng trực tiếp bao gồm Tòa án nhân dân các cấp, các Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, cũng như các cơ quan, tổ chức và cá nhân tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp.
Nội dung cốt lõi của Phần mở đầu và các điều khoản đầu (Từ Điều 1 đến Điều 4)
Điều 1: Nguyên tắc chung về xác định thẩm quyền của Tòa án
- Quy định rõ ràng về việc phân định thẩm quyền giữa Tòa án nhân dân và các cơ quan hành chính nhà nước trong việc giải quyết các khiếu kiện, tranh chấp phát sinh, đảm bảo quyền tiếp cận công lý của người dân.
- Hướng dẫn áp dụng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự để xác định đúng thẩm quyền theo vụ việc, thẩm quyền theo lãnh thổ và thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn trong các trường hợp đặc thù.
- Yêu cầu Tòa án phải chủ động rà soát, thụ lý và giải quyết đúng thẩm quyền, tránh tình trạng đùn đẩy trách nhiệm hoặc chậm trễ trong việc thụ lý đơn khởi kiện.
Điều 2: Thẩm quyền giải quyết tranh chấp liên quan đến đất đai
- Phân định rõ thẩm quyền giữa Tòa án nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp đối với các tranh chấp đất đai trong trường hợp đương sự có hoặc không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc các giấy tờ hợp pháp khác theo quy định của Luật Đất đai.
- Hướng dẫn cụ thể về thẩm quyền giải quyết tranh chấp tài sản gắn liền với đất, tranh chấp phát sinh từ các giao dịch dân sự như chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất.
- Làm rõ trường hợp Tòa án có thẩm quyền xem xét, hủy quyết định cá biệt của Ủy ban nhân dân khi giải quyết vụ án dân sự có liên quan theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính và dân sự.
Điều 3: Thẩm quyền giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại
- Xác định tiêu chí phân biệt giữa tranh chấp dân sự thông thường và tranh chấp kinh doanh, thương mại dựa trên mục đích lợi nhuận và tư cách chủ thể tham gia giao dịch của các bên.
- Hướng dẫn thẩm quyền giải quyết các tranh chấp nội bộ doanh nghiệp, tranh chấp giữa các thành viên công ty, tranh chấp phát sinh từ hợp đồng thương mại có yếu tố nước ngoài.
- Quy định về việc tôn trọng thỏa thuận trọng tài hợp pháp và điều kiện để Tòa án thụ lý vụ án khi các bên có điều khoản trọng tài trong hợp đồng.
Điều 4: Thẩm quyền giải quyết tranh chấp về lao động
- Xác định rõ các loại tranh chấp lao động cá nhân và tranh chấp lao động tập thể thuộc thẩm quyền giải quyết trực tiếp của Tòa án nhân dân.
- Hướng dẫn điều kiện thụ lý vụ án lao động, đặc biệt là yêu cầu về thủ tục hòa giải bắt buộc của Hòa giải viên lao động trước khi khởi kiện ra Tòa án đối với một số loại tranh chấp cụ thể theo quy định của Bộ luật Lao động.
- Quy định thẩm quyền giải quyết tranh chấp liên quan đến bảo hiểm xã hội, kinh phí công đoàn và bồi thường thiệt hại khi chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.
Hiệu lực thi hành
Do thông tin về ngày ban hành và ngày áp dụng của văn bản chưa được xác định rõ, hiệu lực thi hành của Công văn này sẽ được áp dụng theo các quy định chung về văn bản hướng dẫn nghiệp vụ của cơ quan có thẩm quyền tại thời điểm ban hành thực tế.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 271/NCPL | Hà Nội, ngày 21 tháng 5 năm 1993 |
CÔNG VĂN
SỐ 271/NCPL NGÀY 21-5-1993 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT MỘT SỐ TRANH CHẤP CỤ THỂ
.
1. Theo quy định tại Điều 1 Luật Đất đai (có hiệu lực từ ngày 8-1-1988) thì: "Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý". Trong trường hợp trước ngày Luật đất đai có hiệu lực, Toà án đã giải quyết tranh chấp quyền quản lý, sử dụng đất, nhưng sau đó bản án, quyết định của toà án không được thi hành, vì lý do toàn bộ ruộng đất đó đã đưa vào Hợp tác xã quản lý, sử dụng và khi hợp tác xã tan rã đã xẩy ra sự tranh chấp về quyền sử dụng đất, theo tinh thần của Quyết định số 13/HĐBT ngày 1-2-1989 của Hội đồng Bộ trưởng về việc giải quyết một số vấn đề cấp bách về ruộng đất và theo quy định tại Điều 21 Luật Đất đai, thì việc giải quyết các tranh chấp loại này thuộc thẩm quyền giải quyết của uỷ ban nhân dân xã, thị trấn. Nếu không đồng ý với quyết định của uỷ ban nhân dân đã giải quyết tranh chấp, đương sự có quyền khiếu nại lên cơ quan chính quyền cấp trên. Quyết định của chính quyền cấp trên trực tiếp có hiệu lực thi hành. Do đó, hiện nay trong trường hợp đương sự có yêu cầu Toà án giải quyết, thì toà án cần giải thích cho đương sự biết các quy định trên.
2. Trong trường hợp người mất trí không có con cái, không nơi nương tựa nếu có những người trong họ tranh chấp với nhau về việc nhận nuôi và chăm sóc người mất trí đó (cho dù là với mục đích gì), thì thẩm quyền giải quyết loại tranh chấp này không phải là của toà án mà là của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thường trú của người mất trí. Uỷ ban nhân dân có thẩm quyền căn cứ vào tình hình cụ thể mà công nhận hay không công nhận cho ai được nhận nuôi và chăm sóc mà đưa người mất trí vào cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng người già yếu, cô đơn tàn tật.
3. Các tranh chấp về sử dụng nguồn nước tự nhiên không thuộc thẩm quyền giải quyết của toà án, mà thuộc thẩm quyền giải quyết của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền. Trong trường hợp do sử dụng nguồn nước mà gây thiệt hại về hoa màu, tài sản của người khác, thì người bị thiệt hại có quyền khởi kiện yêu cầu toà án giải quyết về việc bồi thường thiệt hại và loại này thuộc thẩm quyền giải quyết của toà án.
|
|
|
Công văn về thẩm quyền giải quyết một số tranh chấp cụ thể
- Số hiệu: 271/NCPL
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 21/05/1993
- Nơi ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
- Người ký:
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 21/05/1993
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
