Tổng quan về Công văn số 9881/BCT-CNNg
Công văn số 9881/BCT-CNNg do Bộ Công thương ban hành là văn bản hành chính quan trọng nhằm hướng dẫn, điều chỉnh hoạt động xuất khẩu bột Barit của các doanh nghiệp tại Việt Nam. Văn bản này đóng vai trò định hướng trong việc quản lý nguồn tài nguyên khoáng sản phi kim loại, đảm bảo việc xuất khẩu tuân thủ đúng quy hoạch khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
Các điều kiện và tiêu chuẩn xuất khẩu bột Barit
Theo tinh thần chỉ đạo của Bộ Công thương, việc xuất khẩu bột Barit phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn kỹ thuật và pháp lý nghiêm ngặt nhằm tối ưu hóa giá trị xuất khẩu và bảo vệ tài nguyên quốc gia:
- Tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm: Bột Barit xuất khẩu phải qua quá trình chế biến sâu, đạt các chỉ tiêu kỹ thuật cụ thể về hàm lượng BaSO4 (Bari Sunfat), độ mịn, độ trắng và các tạp chất đi kèm theo đúng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hoặc các quy định hiện hành của Bộ Công thương về tiêu chuẩn xuất khẩu khoáng sản.
- Nguồn gốc xuất xứ hợp pháp: Doanh nghiệp xuất khẩu phải chứng minh được nguồn gốc hợp pháp của quặng Barit nguyên liệu. Nguồn nguyên liệu này phải được khai thác từ các mỏ có giấy phép khai thác còn hiệu lực, hoặc được mua từ các đơn vị có chức năng phân phối, chế biến khoáng sản hợp pháp theo quy định của Luật Khoáng sản.
- Phù hợp với quy hoạch khoáng sản: Hoạt động xuất khẩu bột Barit phải nằm trong kế hoạch, quy hoạch phát triển công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản, không làm ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng nguyên liệu Barit trong nước, đặc biệt là trong ngành khoan thăm dò dầu khí và các ngành công nghiệp hóa chất nội địa.
Thủ tục xuất khẩu và trách nhiệm của các bên liên quan
Để triển khai thực hiện hiệu quả nội dung tại Công văn số 9881/BCT-CNNg, Bộ Công thương đưa ra các hướng dẫn cụ thể đối với doanh nghiệp và cơ quan quản lý:
- Đối với doanh nghiệp xuất khẩu: Doanh nghiệp có trách nhiệm lập hồ sơ xuất khẩu đầy đủ theo quy định của pháp luật hải quan, bao gồm chứng từ chứng minh nguồn gốc khoáng sản, phiếu phân tích chất lượng sản phẩm (COA) do phòng thí nghiệm có thẩm quyền cấp, và các hóa đơn, chứng từ thương mại liên quan. Doanh nghiệp phải tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của các thông tin khai báo.
- Đối với cơ quan Hải quan: Thực hiện việc kiểm tra, giám sát chặt chẽ hồ sơ và thực tế hàng hóa xuất khẩu đối với mặt hàng bột Barit. Chỉ cho phép thông quan khi doanh nghiệp xuất trình đầy đủ hồ sơ hợp pháp và sản phẩm đạt tiêu chuẩn xuất khẩu theo hướng dẫn của Bộ Công thương.
- Chế độ báo cáo định kỳ: Các doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất khẩu bột Barit phải thực hiện chế độ báo cáo định kỳ về tình hình xuất khẩu, sản lượng, kim ngạch và nguồn gốc nguyên liệu gửi về Bộ Công thương và các cơ quan quản lý địa phương để phục vụ công tác theo dõi, tổng hợp và điều hành vĩ mô.
Ý nghĩa và tác động của văn bản đối với hoạt động quản lý khoáng sản
Công văn số 9881/BCT-CNNg thể hiện sự nhất quán của Bộ Công thương trong việc hạn chế xuất khẩu khoáng sản thô, khuyến khích chế biến sâu để nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm xuất khẩu. Việc áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật chặt chẽ đối với bột Barit giúp ngăn chặn tình trạng khai thác và xuất khẩu trái phép, bảo vệ môi trường, đồng thời đảm bảo nguồn cung ổn định cho các ngành công nghiệp then chốt trong nước.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ CÔNG THƯƠNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 9881/BCT-CNNg | Hà Nội, ngày 16 tháng 10 năm 2008 |
| Kính gửi: | - Uỷ ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang; |
Phúc đáp công văn số 2529/UBND-CN ngày 13 tháng 10 năm 2008 của quý Uỷ ban đề nghị Bộ Công thương có văn bản gửi Tổng cục Hải quan về việc hướng dẫn thực hiện xuất khẩu bột barit của các Doanh nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh, Bộ Công Thương có ý kiến như sau:
Bộ Công Thương đã có công văn số 7989/BCT-CNNg ngày 09 tháng 9 năm 2008 phúc đáp công văn số 1907/UBND-TNMT-A ngày 01 tháng 8 năm 2008 của quý Uỷ ban về việc xuất khẩu quặng barit với nội dung như sau:
1. Quặng barit là nguyên liệu rất cần thiết cho chế biến chất gia trọng trong dung dịch khoan dầu khí, trữ lượng trong nước không nhiều; vì vậy các mỏ, điểm quặng barit thuộc tỉnh Tuyên Quang (và một số tỉnh khác) đã được đưa vào Danh mục quy hoạch cân đối phục vụ cho chế biến sâu trong nước tại Thông tư số 08/2008/TT-BCN, với mục đích chủ yếu để phục vụ nhu cầu trong nước.
2. Theo Báo cáo ngày 29 tháng 8 năm 2008 của UBND Tỉnh, hiện trên địa bàn Tỉnh có 8 cơ sở sản xuất của 6 doanh nghiệp hoạt động chế biến bột barit; sản lượng năm 2008 dự kiến đạt 185.000 tấn. Ngày 19 tháng 02 năm 2008 Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã có công văn số 1056/DKVN-KH đề nghị các doanh nghiệp trong Tỉnh cung cấp cho ngành dầu khí mỗi năm 60.000 - 80.000 tấn bột barit-AIP. Như vậy, năm 2008, bột barit sản xuất ra sẽ dư thừa so với nhu cầu của ngành dầu khí.
3. Xét thực tế các doanh nghiệp trên địa bàn Tỉnh đã đầu tư cơ sở chế biến bột barit khi việc xuất khẩu khoáng sản đang được thực hiện theo Thông tư 02/2006/TT-BCN ngày 14 tháng 4 năm 2006 (không quy định hạn chế xuất khẩu barit); để giúp các doanh nghiệp thực hiện được các hợp đồng xuất khẩu đã ký và góp phần thực hiện kế hoạch sản xuất và xuất khẩu năm 2008 của Tỉnh, Bộ Công Thương đồng ý để các doanh nghiệp của Tuyên Quang xuất khẩu số lượng bột barit dư ra sau khi đã cung cấp đủ cho nhu cầu của ngành dầu khí (theo hợp đồng ký với các doanh nghiệp của ngành dầu khí). Thời gian thực hiện việc xuất khẩu: đến hết 31 tháng 12 năm 2008. Ngoài ra, các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu có trách nhiệm tuân thủ đầy đủ mọi quy định của Thông tư 08/2008/TT-BCN nêu trên.
4. Do trữ lượng quặng barit không nhiều; để đảm bảo đủ nguyên liệu cho hoạt động ổn định và lâu dài của ngành dầu khí, Bộ Công Thương đề nghị UBND tỉnh Tuyên Quang chỉ đạo các doanh nghiệp khai thác - chế biến bột barit chủ động làm việc với ngành dầu khí (và các ngành khác có nhu cầu) để xác định nhu cầu thực tế, trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch năm 2009 và các năm tiếp theo theo hướng đủ đáp ứng nhu cầu trong nước (có sản lượng dự phòng hoặc gối đầu hợp lý), tiết kiệm tài nguyên, không hướng tới việc xuất khẩu. Đồng thời, đề nghị UBND Tỉnh tạo điều kiện để các doanh nghiệp được tham gia khai thác, chế biến các loại khoáng sản khác (trước hết là các khoáng sản có yêu cầu công nghệ chế biến tương tự - chủ yếu là nghiền mịn - như cao lanh, fenspat, bột carbonat canxi...) nhằm phát huy năng lực sản xuất đã đầu tư.
Trên đây là ý kiến của Bộ Công Thương, đề nghị UBND tỉnh Tuyên Quang, Tổng cục Hải quan chỉ đạo các đơn vị liên quan nghiên cứu, thực hiện./.
|
| KT. BỘ TRƯỞNG |
Công văn số 9881/BCT-CNNg về việc xuất khẩu bột Barit do Bộ Công thương ban hành
- Số hiệu: 9881/BCT-CNNg
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 16/10/2008
- Nơi ban hành: Bộ Công thương
- Người ký: Lê Dương Quang
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 16/10/2008
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
