Giới thiệu về Công văn số 743/TCT-KK
Công văn số 743/TCT-KK do Tổng cục Thuế ban hành là văn bản chỉ đạo quan trọng nhằm tăng cường công tác phối hợp giữa cơ quan thuế và các cơ quan, ban ngành liên quan trong việc đôn đốc, cưỡng chế và thu hồi nợ đọng thuế. Việc ban hành công văn này hướng tới mục tiêu giảm tỷ lệ nợ đọng thuế, bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước và nâng cao tính tuân thủ pháp luật của người nộp thuế trên phạm vi cả nước.
Mục tiêu cốt lõi của công tác phối hợp thu nợ thuế
Công văn nhấn mạnh các mục tiêu trọng điểm sau đây trong quá trình triển khai thu hồi nợ thuế:
- Nâng cao hiệu quả thực thi các biện pháp cưỡng chế nợ thuế theo đúng quy định của Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành.
- Hạn chế tối đa tình trạng tẩu tán tài sản, bỏ trốn hoặc ngưng hoạt động nhằm trốn tránh nghĩa vụ thuế của các doanh nghiệp nợ đọng.
- Tạo sự đồng bộ, thống nhất giữa cơ quan thuế với các cơ quan quản lý nhà nước khác trong việc chia sẻ thông tin và áp dụng các biện pháp chế tài nghiêm khắc.
Các nội dung phối hợp trọng tâm được quy định
Để triển khai hiệu quả công tác thu nợ thuế, Tổng cục Thuế yêu cầu các Cục Thuế địa phương tập trung phối hợp chặt chẽ với các đơn vị liên quan theo các nội dung cụ thể:
- Phối hợp với các Ngân hàng thương mại và Tổ chức tín dụng: Yêu cầu cung cấp thông tin tài khoản, thực hiện phong tỏa tài khoản và trích tiền từ tài khoản của người nộp thuế bị cưỡng chế theo quyết định của cơ quan thuế một cách kịp thời, chính xác.
- Phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư: Thực hiện biện pháp cưỡng chế thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đối với các trường hợp chây ỳ nợ thuế kéo dài; đồng thời kiểm soát chặt chẽ việc thành lập doanh nghiệp mới của các cá nhân là đại diện pháp luật của doanh nghiệp đang nợ thuế.
- Phối hợp với Cơ quan Công an: Trao đổi thông tin, chuyển hồ sơ các trường hợp có dấu hiệu trốn thuế, tẩu tán tài sản trốn nợ thuế để tiến hành điều tra, xác minh và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật hình sự.
- Phối hợp với Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh: Áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh đối với cá nhân, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật hiện hành.
Tổ chức thực hiện và trách nhiệm của cơ quan thuế các cấp
Tổng cục Thuế giao nhiệm vụ cụ thể cho các Cục Thuế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nhằm đảm bảo tính hiệu quả và đồng bộ:
- Chủ động tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập Ban chỉ đạo chống thất thu và thu hồi nợ đọng thuế tại địa phương để huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị.
- Phân công nhiệm vụ rõ ràng cho từng công chức quản lý nợ, gắn trách nhiệm thu hồi nợ thuế với công tác đánh giá hoàn thành nhiệm vụ định kỳ của cá nhân và đơn vị.
- Thực hiện rà soát, phân loại nợ thuế chính xác để áp dụng biện pháp đôn đốc, cưỡng chế phù hợp với từng đối tượng nợ thuế, tránh tình trạng áp dụng sai biện pháp cưỡng chế.
- Báo cáo định kỳ kết quả thực hiện phối hợp thu nợ thuế về Tổng cục Thuế để kịp thời tháo gỡ các vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện thực tế.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 743/TCT-KK | Hà Nội, ngày 06 tháng 03 năm 2009 |
Kính gửi: Tổng cục Hải quan
Tổng cục Thuế nhận được công văn số 60/TCHQ-KTTT ngày 06/01/2009 của Tổng cục Hải quan về việc vướng mắc khi thu nợ thuế hàng nhập khẩu qua thuế giá trị gia tăng (GTGT) nội địa chờ hoàn, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Theo hướng dẫn tại Mục V Phần II Thông tư số 62/2007/TT-BTC ngày 14/6/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 97/2007/NĐ-CP ngày 07/6/2007 của Chính phủ quy định việc xử lý vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan;
Theo quy định tại Luật quản lý thuế, Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật quản lý thuế và hướng dẫn thực hiện tại Phần G Thông tư số 60/2007/TT-BTC ngày 14/6/2007 của Bộ Tài chính;
Theo hướng dẫn tại Điểm 3.3, Điểm 3.4 và Điểm 4 Mục III Phần II Thông tư số 85/2007/TT-BTC ngày 18/7/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Luật quản lý thuế về đăng ký thuế.
Theo nội dung công văn số 60/TCHQ-KTTT của Tổng cục Hải quan thì: Công ty TNHH sản xuất túi xốp Hoàn Cầu (MST: 0301482981) tại thành phố Hồ Chí Minh có nợ thuế GTGT hàng nhập khẩu quá hạn tại Cục Hải quan tỉnh Bình Dương. Hiện Công ty đã ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh, người điều hành quản lý không có, ngân hàng đã niêm phong xưởng sản xuất. Qua tìm hiểu thông tin từ cơ quan thuế thì Công ty đang còn số tiền thuế GTGT âm đến tháng 10/2008 (theo báo cáo thuế tháng 9/2008) tại Chi cục Thuế Quận 11 thành phố Hồ Chí Minh; Chi cục Thuế cho biết do giám đốc Công ty bỏ trốn nên Công ty không có hồ sơ hoàn thuế, do vậy Chi cục không thể phối hợp với cơ quan hải quan để thu hồi nợ thuế.
Căn cứ theo các quy định nêu trên và trường hợp của Công ty Hoàn Cầu nêu trên, thì:
- Trường hợp số thuế GTGT âm theo báo cáo thuế tháng 9/2008 của Công ty Hoàn Cầu chỉ là số liệu qua kê khai của Công ty, không phải là số liệu theo Biên bản quyết toán thuế toàn Công ty do cơ quan thuế lập nên không có đủ căn cứ để xác định đây là số tiền thuế GTGT thuộc loại cơ quan thuế phải hoàn trả cho Công ty. Trường hợp này, nếu Công ty (hoặc tổ chức, cá nhân được thụ hưởng theo pháp luật) có hồ sơ đề nghị hoàn thuế của Công ty gửi cơ quan thuế thì cơ quan thuế mới có đủ căn cứ để phối hợp với cơ quan hải quan để thực hiện bù trừ số thuế GTGT Công ty được xét hoàn với số tiền thuế GTGT hàng nhập khẩu mà Công ty còn nợ cơ quan hải quan theo đề nghị của cơ quan hải quan.
- Trường hợp của Công ty Hoàn Cầu nêu trên (giám đốc Công ty bỏ trốn, Công ty đã ngừng hoạt động, cơ quan hải quan đã có ý kiến về việc Công ty còn nợ thuế GTGT hàng nhập khẩu) nên cơ quan thuế không có căn cứ để đóng mã số thuế của Công ty mà chỉ thông báo công khai tình trạng không tồn tại của người nộp thuế và cập nhật thông tin vào cơ sở dữ liệu đăng ký thuế của Ngành Thuế, chờ kết luận cuối cùng của cơ quan chức năng để có căn xử lý tồn tại về thuế đối với Công ty.
Từ các nội dung trên, Tổng cục Thuế không có căn cứ để hướng dẫn cơ quan thuế địa phương thực hiện bù trừ số tiền thuế GTGT còn âm theo số liệu kê khai của doanh nghiệp tương ứng với số thuế doanh nghiệp còn nợ cơ quan thuế cũng như còn nợ cơ quan hải quan. Trường hợp doanh nghiệp đề nghị cơ quan thuế quyết toán thuế giải thể doanh nghiệp theo quy định hiện hành, thì cơ quan thuế sẽ thực hiện bù trừ số tiền thuế còn phải hoàn trả doanh nghiệp ghi trên biên bản quyết toán thuế tương ứng với số tiền thuế doanh nghiệp còn nợ ngân sách nhà nước, trong đó có nợ cơ quan hải quan theo quy định hiện hành.
Tổng cục Thuế thông báo để Tổng cục Hải quan được biết./.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
Công văn số 743/TCT-KK về việc phối hợp thu nợ thuế do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 743/TCT-KK
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 06/03/2009
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Phạm Văn Huyến
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 06/03/2009
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
