Tổng quan về Công văn số 649/TCT-PCCS của Tổng Cục Thuế
Công văn số 649/TCT-PCCS là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ do Tổng cục Thuế ban hành nhằm giải quyết các vướng mắc phát sinh trong quá trình thực thi chính sách thuế. Văn bản này đóng vai trò làm cơ sở tham chiếu quan trọng giúp cơ quan thuế các cấp và người nộp thuế thống nhất phương án áp dụng quy định pháp luật thuế vào thực tế sản xuất, kinh doanh.
Các nội dung chính sách thuế cốt lõi
Nội dung của công văn tập trung giải quyết các vấn đề pháp lý trọng tâm liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp, cụ thể bao gồm:
- Làm rõ quy định pháp luật: Hướng dẫn chi tiết cách hiểu và áp dụng các điều khoản trong Luật thuế, Nghị định và Thông tư hướng dẫn hiện hành đối với các trường hợp phát sinh đặc thù tại doanh nghiệp.
- Xác định nghĩa vụ thuế: Quy định rõ ràng về đối tượng chịu thuế, đối tượng không chịu thuế, thuế suất áp dụng cũng như các điều kiện để được khấu trừ, miễn hoặc giảm thuế theo quy định.
- Đồng nhất quy trình thực hiện: Đưa ra hướng xử lý thống nhất cho các Cục Thuế địa phương, tránh tình trạng áp dụng sai lệch hoặc không đồng bộ giữa các địa bàn quản lý thuế khác nhau.
Phạm vi áp dụng và đối tượng chịu tác động
Văn bản hướng dẫn này được áp dụng rộng rãi đối với các đối tượng sau:
- Cơ quan quản lý thuế: Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các Chi cục Thuế trực thuộc căn cứ vào nội dung hướng dẫn để thực hiện công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra thuế.
- Người nộp thuế: Các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh có vướng mắc tương tự được phép áp dụng tinh thần hướng dẫn của công văn để thực hiện đúng, đủ nghĩa vụ thuế của mình.
Khuyến nghị thực thi pháp luật thuế
Do các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ như Công văn số 649/TCT-PCCS có tính chất giải quyết vụ việc cụ thể và có thể bị thay đổi khi các văn bản quy phạm pháp luật cao hơn (Luật, Nghị định, Thông tư) được sửa đổi, bổ sung, người nộp thuế cần lưu ý:
- Thường xuyên cập nhật các văn bản quy phạm pháp luật mới nhất về thuế để đảm bảo tính tuân thủ.
- Chủ động tham vấn ý kiến bằng văn bản từ cơ quan thuế quản lý trực tiếp khi gặp các tình huống phát sinh chưa được quy định rõ ràng trong các văn bản pháp luật hiện hành.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| TỔNG CỤC THUẾ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 649/TCT-PCCS | Hà Nội, ngày 21 tháng 02 năm 2006 |
Kính gửi: Cục thuế tỉnh Quảng Nam
Trả lời công văn số 57/CT-TTHT ngày 6/1/2006 của Cục thuế tỉnh Quảng Nam về chính sách thuế, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
1. Tại Điểm 2 Mục I Thông tư số 11/2004/TT-BTC ngày 25/2/2004 hướng dẫn chế độ tài chính áp dụng tại khu kinh tế mở Chu Lai hướng dẫn: “Đối tượng áp dụng các chính sách ưu đãi về tài chính quy định trong Thông tư này là các tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài hoạt động sản xuất, kinh doanh tại KKTM Chu Lai, bao gồm:
a. Các nhà đầu tư trong nước thuộc các thành phần kinh tế hoạt động theo quy định của Doanh nghiệp Nhà nước, Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã, các hộ kinh doanh cá thể và các cá nhân hành nghề độc lập.
b. Các tổ chức, cá nhân nước ngoài lao động bao gồm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nhà đầu tư nước ngoài tham gia Hợp đồng hợp tác kinh doanh, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoạt động theo các hình thức quy định tại Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài kinh doanh không theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam”.
Căn cứ vào hướng dẫn nêu trên các hoạt động kinh doanh của tổ chức Việt Nam gồm các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp có tổ chức sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ tại khu kinh tế thương mại Chu Lai mà không đăng ký kinh doanh theo Luật doanh nghiệp Nhà nước, Luật doanh nghiệp, Luật hợp tác xã, các hộ kinh doanh cá thể thì không thuộc đối tượng được ưu đãi theo thông tư số 11/2004/TT-BTC nêu trên.
2. Tại Khoản 4 Điều 13 Luật kế toán 17/6/2003 quy định: “Trường hợp kỳ kế toán năm đầu tiên hoặc kỳ kế toán năm cuối cùng có thời gian ngắn hơn 90 ngày thì được phép cộng với kỳ kế toán năm tiếp theo hoặc cộng với kỳ kế toán năm trước đó để hình thành một kỳ kế toán năm. Kỳ kế toán năm đầu tiên hoặc kỳ kế toán năm cuối cùng phải ngắn hơn 15 tháng”.
Tại Khoản 3 Điều 13 Luật kế toán 17/6/2003 cũng quy định: “3. Đơn vị kế toán khi chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi hình thức sở hữu, giải thể, chấm dứt hoạt động hoặc phá sản thì kỳ kế toán cuối cùng tính từ đầu ngày kỳ kế toán năm, kỳ kế toán quý, kỳ kế toán tháng theo quy định tại Khoản 1 Điều này đến hết ngày trước ngày ghi trên quyết định chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi hình thức sở hữu, giải thể chấm dứt hoạt động hoặc phá sản đơn vị kế toán có hiệu lực”.
Căn cứ vào quy định nêu trên doanh nghiệp mới thành lập nếu có kỳ kế toán năm đầu tiên dưới 90 ngày thì được áp dụng theo quy định tại Khoản 4 Điều 13 Luật kế toán nêu trên; các doanh nghiệp chia, tách, sáp nhập, chuyển đổi hình thức sở hữu, giải thể, chấm dứt hoạt động hoặc phá sản thì xác định kỳ kế toán cuối cùng để quyết toán thuế theo quy định tại Khoản 3 Điều 13 Luật kế toán nêu trên, nếu kỳ kế toán cuối cùng xác định theo Khoản 3 Điều 13 có thời gian ngắn hơn 90 ngày thì xác định lại kỳ kế toán theo Khoản 4 Điều 13 Luật kế toán nêu trên.
3. Tại Điểm 1 Mục II Phần B Thông tư số 120/2003/TT-BTC ngày 12/12/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 158/2003/NĐ-CP ngày 10/12/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế giá trị gia tăng và Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật thuế giá trị gia tăng hướng dẫn: “Hàng hóa gia công xuất khẩu chuyển tiếp theo quy định tại Điều 17 Nghị định số 57/1998/NĐ-CP ngày 31/7/1998 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thương mại về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, gia công và đại lý mua bán hàng hóa với nước ngoài. Trường hợp này áp dụng đối với hàng gia công xuất khẩu của cơ sở trực tiếp gia công theo hợp đồng gia công cơ sở đã ký với bên nước ngoài (gọi là cơ sở giao hàng), nhưng hàng gia công chưa được xuất khẩu ra nước ngoài mà được giao chuyển tiếp cho cơ sở khác ở trong nước (gọi là cơ sở nhận hàng) theo chỉ định của bên nước ngoài để tiếp tục gia công thành sản phẩm hoàn chỉnh theo hợp đồng gia công đã ký với nước ngoài, tiền gia công do bên nước ngoài trực tiếp thanh toán”.
Căn cứ vào hướng dẫn nêu trên, trường hợp doanh nghiệp ký hợp đồng gia công giặt tẩy hàng dệt may trực tiếp với khách hàng nước ngoài, hàng được giặt tẩy xong thì được giao lại cho doanh nghiệp trong nước để xuất khẩu nếu đủ các điều kiện, thủ tục, hồ sơ theo hướng dẫn tại Điểm 1.2 đ.1 Mục III Phần B Thông tư số 120/2003/TT-BTC thì được coi là xuất khẩu theo hình thức hàng hóa gia công xuất khẩu chuyển tiếp.
Tổng cục Thuế thông báo để Cục thuế biết và thực hiện./.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1Luật Doanh nghiệp 2005
- 2Nghị định 57/1998/NĐ-CP Hướng dẫn Luật Thương mại về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, gia công và đại lý mua bán hàng hoá với nước ngoài
- 3Luật Kế toán 2003
- 4Luật Hợp tác xã 2003
- 5Thông tư 120/2003/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 158/2003/NĐ-CP thi hành Luật thuế giá trị gia tăng và Luật thuế giá trị gia tăng sửa đổi do Bộ Tài chính ban hành
- 6Thông tư 11/2004/TT-BTC hướng dẫn chế độ tài chính áp dụng tại Khu kinh tế mở Chu Lai do Bộ Tài chính ban hành
Công văn số 649/TCT-PCCS của Tổng Cục Thuế về chính sách thuế
- Số hiệu: 649/TCT-PCCS
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 21/02/2006
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Phạm Duy Khương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 21/02/2006
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
