Tổng quan về Công văn số 6049/TCHQ-KTTT về Giá tính thuế vải phế liệu
Công văn số 6049/TCHQ-KTTT do Tổng cục Hải quan ban hành nhằm hướng dẫn nghiệp vụ cho các Cục Hải quan tỉnh, thành phố về việc xác định trị giá tính thuế đối với mặt hàng vải phế liệu, phế phẩm phát sinh từ hoạt động gia công, sản xuất xuất khẩu khi chuyển tiêu thụ nội địa. Đây là văn bản hướng dẫn quan trọng giúp thống nhất quy trình thực hiện, đảm bảo thu đúng, thu đủ thuế và tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho doanh nghiệp.
1. Nguyên tắc xác định trị giá tính thuế đối với vải phế liệu
Theo quy định của pháp luật hải quan hiện hành, việc xác định trị giá tính thuế đối với vải phế liệu thu hồi từ quá trình sản xuất, gia công hàng xuất khẩu khi bán vào thị trường nội địa được thực hiện theo các nguyên tắc sau:
- Thời điểm xác định trị giá: Trị giá tính thuế được xác định tại thời điểm doanh nghiệp thay đổi mục đích sử dụng, đăng ký tờ khai hải quan mới để chuyển tiêu thụ nội địa.
- Cơ sở xác định: Trị giá hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu chuyển tiêu thụ nội địa là giá trị giao dịch thực tế, được xác định theo các nguyên tắc và phương pháp xác định trị giá hải quan quy định tại Thông tư của Bộ Tài chính.
- Giá bán thực tế: Trị giá tính thuế phải phản ánh đúng giá trị giao dịch thực tế của hàng hóa trên thị trường tại thời điểm chuyển tiêu thụ nội địa, không được thấp hơn giá bán thực tế ghi trên hóa đơn thương mại hoặc hợp đồng mua bán phế liệu.
2. Các phương pháp xác định trị giá hải quan áp dụng
Trong trường hợp không áp dụng được phương pháp trị giá giao dịch, cơ quan hải quan và doanh nghiệp phải áp dụng tuần tự các phương pháp xác định trị giá hải quan khác:
- Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu giống hệt hoặc tương tự: So sánh với giá của các lô hàng vải phế liệu giống hệt hoặc tương tự đã được cơ quan hải quan chấp nhận trị giá giao dịch trong cùng khoảng thời gian.
- Phương pháp trị giá khấu trừ: Xác định dựa trên giá bán của vải phế liệu tại thị trường nội địa sau khi trừ đi các chi phí hợp lý như chi phí vận chuyển, thuế và lợi nhuận định mức.
- Phương pháp trị giá tính toán: Xác định dựa trên chi phí nguyên vật liệu, chi phí sản xuất và lợi nhuận thông thường của mặt hàng tương tự.
- Phương pháp suy luận: Sử dụng các tài liệu, số liệu khách quan sẵn có tại thời điểm xác định trị giá để suy luận một cách hợp lý và khoa học.
3. Trách nhiệm của người khai hải quan và cơ quan hải quan
Để đảm bảo tính minh bạch và tuân thủ pháp luật, Công văn nhấn mạnh vai trò và trách nhiệm của các bên liên quan:
- Đối với người khai hải quan (doanh nghiệp): Phải tự kê khai, tự xác định trị giá tính thuế một cách trung thực, khách quan. Doanh nghiệp có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ hồ sơ, chứng từ, hóa đơn bán hàng, hợp đồng thanh lý phế liệu và các tài liệu liên quan khác để chứng minh tính trung thực của trị giá khai báo khi có yêu cầu từ cơ quan hải quan.
- Đối với cơ quan hải quan: Thực hiện kiểm tra chặt chẽ thông tin khai báo của doanh nghiệp. Đối chiếu mức giá khai báo với cơ sở dữ liệu giá của ngành hải quan và thông tin thị trường. Trong trường hợp phát hiện mức giá khai báo bất thường hoặc có nghi vấn về trị giá, cơ quan hải quan phải tổ chức tham vấn, yêu cầu doanh nghiệp giải trình hoặc tiến hành kiểm tra sau thông quan để ấn định thuế theo đúng quy định pháp luật.
4. Ý nghĩa pháp lý và thực tiễn của văn bản
Công văn số 6049/TCHQ-KTTT đóng vai trò thiết thực trong việc tháo gỡ các vướng mắc phát sinh tại các chi cục hải quan địa phương, đồng thời ngăn chặn các hành vi gian lận thương mại thông qua việc khai thấp trị giá tính thuế đối với phế liệu vải. Việc áp dụng đồng bộ các hướng dẫn này giúp bảo vệ nguồn thu ngân sách nhà nước và tạo sự bình đẳng cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dệt may và xử lý phế liệu.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 6049/TCHQ-KTTT | Hà Nội, ngày 11 tháng 12 năm 2006 |
Kính gửi : Cục hải quan Hải Phòng
Qua công tác rà soát theo dõi tình hình thực hiện việc xác định giá tính thuế, tại Cục Hải quan Hải Phòng có 15 tờ khai nhập khẩu mặt hàng "Vải vụn phế liệu" có giá quá thấp (0.0013 USD/kg, tương đương 20 đồng Việt Nam/kg), nhập khẩu từ tháng 6/2006 đến nay, (gần nhất là 2 tờ khai số 587/NKD ngày 20/11/2006 và tờ khai số 601/NKD ngày 27/11/2006 của Chi cục Hải quan KCX và KCN Hải Phòng), có giá 0.0013 USD/kg (tương đương 20 đồng Việt Nam) nhưng không đánh dấu nghi ngờ để tham vấn.
Để thực hiện tốt công tác giá tính thuế, ngăn chặn việc nhập khẩu hàng hóa khai báo quá thấp, Tổng cục Hải quan yêu cầu Cục Hải quan Hải Phòng:
1. Tổ chức tham vấn và bác bỏ ngay những lô hàng vải vụn phế liệu trong thời hạn quy định, những lô hàng quá thời hạn tham vấn thì chuyển sang bộ phận kiểm tra sau thông quan để làm rõ việc khai báo giá quá thấp (giá 1,3 USD/tấn, trong khi đó giá vận chuyển của 1 tấn hàng từ Nhật bản về Việt Nam đã khoảng 70 USD/ tấn).
2. Thường xuyên rà soát, chỉ đạo kịp thời các Chi cục tổ chức tham vấn và bác bỏ ngay đối với các trường hợp nghi ngờ, các mặt hàng có giá quá thấp và có xu hướng ngày càng giảm dần, kịp thời ngăn chặn các hiện tượng gian lận thương mại, không để xảy ra những trường hợp tương tự nêu trên.
Tổng cục Hải quan thông báo để Cục Hải quan Hải Phòng biết và thực hiện./.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
Công văn số 6049/TCHQ-KTTT của Tổng cục Hải quan về việc Giá tính thuế vải phế liệu
- Số hiệu: 6049/TCHQ-KTTT
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 11/12/2006
- Nơi ban hành: Tổng cục Hải quan
- Người ký: Đặng Hạnh Thu
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 11/12/2006
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
