Giới thiệu chung về Công văn số 5109/TCHQ-KTTT
Công văn số 5109/TCHQ-KTTT do Tổng cục Hải quan ban hành là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng gửi đến Cục Hải quan các tỉnh, thành phố nhằm thống nhất thực hiện việc thoái thu (hoàn trả) tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa cho người nộp thuế. Văn bản này đóng vai trò giải quyết các vướng mắc phát sinh trong quá trình thông quan và sau thông quan, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu.
Các nội dung trọng tâm về việc thoái thu tiền thuế
Dưới đây là các quy định và hướng dẫn chi tiết được Tổng cục Hải quan nhấn mạnh trong việc thực hiện thoái thu tiền thuế:
1. Các trường hợp được xác định thoái thu tiền thuế
- Người nộp thuế có số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt đã nộp lớn hơn số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt phải nộp đối với từng loại thuế trong thời hạn quy định.
- Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có sự thay đổi về đối tượng chịu thuế, miễn thuế, giảm thuế hoặc hoàn thuế theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Các trường hợp phát sinh sai sót trong khâu tính thuế, áp mã số thuế, trị giá hải quan dẫn đến việc người nộp thuế nộp thừa so với thực tế.
2. Quy trình và thủ tục xử lý tiền thuế thoái thu
- Tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ: Cơ quan Hải quan nơi phát sinh khoản tiền thuế nộp thừa có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ đề nghị thoái thu từ người nộp thuế. Công chức hải quan thực hiện đối chiếu thông tin trên hệ thống kế toán thuế tập trung và hồ sơ hải quan gốc.
- Xác định số tiền thuế được thoái thu: Thực hiện tính toán chính xác số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt được hoàn trả dựa trên các chứng từ nộp tiền và quyết định xử lý hành chính hoặc quyết định ấn định thuế liên quan.
- Ra quyết định hoàn thuế (thoái thu): Thủ trưởng cơ quan Hải quan có thẩm quyền ký quyết định hoàn trả tiền thuế nộp thừa cho doanh nghiệp theo đúng biểu mẫu quy định.
- Thực hiện chi trả: Khoản tiền thoái thu được thực hiện hoàn trả trực tiếp từ ngân sách nhà nước hoặc thực hiện bù trừ vào các khoản nợ thuế, khoản phải nộp tiếp theo của người nộp thuế theo đề nghị của doanh nghiệp.
3. Trách nhiệm của cơ quan Hải quan địa phương
- Cục Hải quan các tỉnh, thành phố phải chỉ đạo các Chi cục Hải quan trực thuộc thực hiện nghiêm túc, kịp thời việc giải quyết hồ sơ thoái thu, tránh gây phiền hà, kéo dài thời gian ảnh hưởng đến dòng vốn của doanh nghiệp.
- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát nội bộ để phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi trục lợi, gian lận trong việc hoàn thuế, thoái thu thuế.
- Cập nhật đầy đủ, chính xác thông tin về các quyết định thoái thu lên Hệ thống kế toán thuế tập trung (KTTT) của ngành Hải quan để đảm bảo tính thống nhất dữ liệu toàn quốc.
Ý nghĩa pháp lý và thực tiễn của văn bản
Công văn số 5109/TCHQ-KTTT góp phần chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ của cơ quan hải quan các cấp, tạo môi trường kinh doanh minh bạch và bình đẳng. Việc hướng dẫn rõ ràng về thoái thu tiền thuế giúp giảm thiểu rủi ro pháp lý cho cả cơ quan quản lý và người nộp thuế, đồng thời thúc đẩy tiến trình cải cách hành chính trong lĩnh vực hải quan.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH TỔNG CỤC HẢI QUAN ****** | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ******** |
| Số: 5109/TCHQ-KTTT V/v thoái thu tiền thuế | Hà Nội, ngày 06 tháng 09 năm 2007 |
Kính gửi: Cục Tài chính doanh nghiệp
Tổng cục Hải quan nhận được công văn số: 147/XPHN-KH.TT ngày 28/8/2007 của Công ty cổ phần xà phòng Hà Nội đề nghị được thoái thu số tiền thuế là: 1.402.651.836 đồng của lô hàng Vaseline nhập khẩu tại tờ khai số: 25041/NKD-KV1 ngày 17/11/1999 đã nộp từ năm 2000. Về vấn đề này, Tổng cục Hải quan xin trao đổi với Cục Tài chính doanh nghiệp như sau:
Năm 1999, Công ty xà phòng Hà Nội (nay là Công ty cổ phần xà phòng Hà Nội) đã mở tờ khai số: 25041/NKD-KV1 ngày 17/11/1999 nhập khẩu mặt hàng Vaseline tại Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh. Trong quá trình làm thủ tục nhập khẩu, do không xác định rõ tên hàng, thành phần, công dụng làm cơ sở để áp dụng giá tính thuế nên cơ quan hải quan đã trưng cầu giám định tại Trung tâm 3. Căn cứ kết quả giám định tại chứng thư giám định số: 4798/N3.9/TĐ ngày 06/12/1999, số: 4798a/N3.9/TĐ ngày 19/8/2000, đối chiếu với các nguyên tắc áp giá tại thời điểm mở tờ khai và bảng giá ban hành kèm theo quyết định số: 296/1999/QĐ-TCHQ ngày 19/8/1999 của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan, cơ quan hải quan đã ra quyết định điều chỉnh tăng số thuế phải nộp do chênh lệch giữa giá tối thiểu và giá hợp đồng là: 1.245.694.348 đồng.
Do không đồng ý với số thuế điều chỉnh tăng nên Công ty đã có công văn khiếu nại kết quả giám định của Trung tâm 3 và kết quả áp giá tính thuế của cơ quan Hải quan đồng thời chưa nộp số thuế điều chỉnh tăng. Tuy nhiên, sau khi nhận được trả lời từ cơ quan Hải quan theo đó việc áp giá tính thuế lô hàng phải căn cứ vào kết quả giám định, Công ty đã nộp đủ số tiền thuế điều chỉnh tăng là: 1.245.694.348 đồng và số tiền phạt chậm nộp là: 156.957.488 đồng (tổng cộng cả hai khoản là: 1.402.651.836 đồng) đồng thời tiếp tục khiếu nại kết quả giám định của cơ quan giám định.
Do thời gian trả lời của cơ quan giám định không thống nhất và kéo dài nên đến đầu năm 2005, khi cổ phần hóa Công ty đã hạch toán số tiền: 1.402.651.836 đồng đã nộp do điều chỉnh thuế chênh lệch giữa giá tối thiểu quy định tại bảng giá với giá hợp đồng và khoản phạt chậm nộp và khoản phải thu khác trên bảng tổng kết tài sản tại thời điểm cổ phần hóa (hạch toán vào vốn của doanh nghiệp) vì cho rằng sau khi có kết quả giám định cuối cùng, Công ty sẽ được hoàn lại khoản tiền thuế và tiền phạt đã nộp là: 1.402.651.836 đồng.
Đầu năm 2007, sau khi có kết quả giám định, Công ty tiếp tục có công văn khiếu nại gửi Tổng cục Hải quan đề nghị xem xét lại việc áp giá lô hàng nhập khẩu. Trên cơ sở khiếu nại của Công ty, qua xem xét lại toàn bộ hồ sơ lô hàng, các kết quả giám định, đối chiếu với các văn bản áp giá tại thời điểm mở tờ khai thì việc tính và áp giá lô hàng nhập khẩu tại tờ khai số: 25041/NKD-KV1 ngày 17/11/1999 của Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh là đúng theo quy định.
Để giải quyết khó khăn về vốn do cổ phần hóa vì hiện nay số tiền đã nộp 1.402.651.836 đồng của Công ty vẫn treo trên bảng tổng kết tài sản, đề nghị Cục Tài chính doanh nghiệp có ý kiến để Tổng cục Hải quan báo cáo Bộ xử lý./.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
Công văn số 5109/TCHQ-KTTT về việc thoái thu tiền thuế do Tổng cục Hải quan ban hành
- Số hiệu: 5109/TCHQ-KTTT
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 06/09/2007
- Nơi ban hành: Tổng cục Hải quan
- Người ký: Đặng Thị Bình An
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 06/09/2007
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
