Giới thiệu về Công văn số 4420/BTC-QLCS
Công văn số 4420/BTC-QLCS do Bộ Tài chính ban hành là một văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng gửi đến các cơ quan tài chính và cơ quan thuế các địa phương. Văn bản này tập trung giải quyết các vướng mắc phát sinh trong quá trình xác định thời điểm áp dụng giá đất để tính thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và các nghĩa vụ tài chính liên quan khác. Việc xác định đúng thời điểm áp dụng giá đất có ý nghĩa quyết định trong việc bảo đảm nguồn thu ngân sách nhà nước, đồng thời bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất và các nhà đầu tư dự án.
Các nội dung chính sách cốt lõi được hướng dẫn tại văn bản bao gồm:
- Nguyên tắc xác định thời điểm tính tiền sử dụng đất và tiền thuê đất
- Thời điểm xác định giá đất để tính thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải được căn cứ theo quy định của pháp luật về đất đai tại thời điểm ban hành quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Đối với trường hợp được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất thì thời điểm tính nghĩa vụ tài chính là thời điểm ban hành quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất.
- Các cơ quan chức năng tại địa phương không được tự ý thay đổi thời điểm áp dụng giá đất trái với thời điểm ghi trên quyết định hành chính của cơ quan có thẩm quyền.
- Hướng dẫn xử lý đối với các trường hợp đặc thù và chuyển tiếp
- Đối với các trường hợp đã bàn giao đất thực tế trước khi có quyết định giao đất, cho thuê đất chính thức, việc xác định giá đất phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định chuyển tiếp của Luật Đất đai và các Nghị định hướng dẫn thi hành của Chính phủ (như Nghị định số 45/2014/NĐ-CP về thu tiền sử dụng đất và Nghị định số 46/2014/NĐ-CP về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước).
- Trường hợp có sự chậm trễ hoặc vướng mắc trong khâu xác định giá đất cụ thể dẫn đến việc kéo dài thời gian thực hiện nghĩa vụ tài chính, cơ quan tài nguyên và môi trường có trách nhiệm chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan để làm rõ nguyên nhân khách quan, chủ quan, báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét quyết định biện pháp xử lý phù hợp với thực tế địa phương và quy định pháp luật.
- Quy trình phối hợp liên ngành trong việc xác định giá đất và tính nghĩa vụ tài chính
- Cơ quan Tài nguyên và Môi trường: Có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, chính xác và kịp thời thông tin địa chính cho cơ quan thuế. Đối với các trường hợp phải áp dụng phương pháp định giá đất cụ thể, cơ quan tài nguyên và môi trường phải khẩn trương hoàn thiện hồ sơ, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt giá đất làm căn cứ tính thu nghĩa vụ tài chính.
- Cơ quan Thuế: Căn cứ vào thông tin địa chính và bảng giá đất hoặc giá đất cụ thể do cơ quan có thẩm quyền cung cấp để thực hiện tính toán, phát hành thông báo nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất cho người sử dụng đất đúng thời hạn quy định.
- Cơ quan Tài chính: Thực hiện vai trò thẩm định phương án giá đất cụ thể, phối hợp chặt chẽ với cơ quan thuế và tài nguyên môi trường để giải quyết các vướng mắc phát sinh trong quá trình áp dụng bảng giá đất và hệ số điều chỉnh giá đất (hệ số K).
- Ý nghĩa thực tiễn và hiệu lực thi hành
- Văn bản góp phần thống nhất nhận thức và phương pháp áp dụng pháp luật về tài chính đất đai giữa các địa phương trên cả nước, hạn chế tối đa tình trạng áp dụng tùy tiện thời điểm tính giá đất gây thất thoát ngân sách hoặc gây thiệt hại cho doanh nghiệp.
- Đẩy nhanh tiến độ giải quyết thủ tục hành chính về đất đai, giúp các dự án đầu tư sớm được triển khai thực hiện, khơi thông nguồn lực đất đai phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
- Tăng cường tính minh bạch, công khai trong công tác quản lý nhà nước về đất đai và tài chính đất đai tại các địa phương.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 4420/BTC-QLCS | Hà Nội, ngày 16 tháng 4 năm 2008 |
Kính gửi: Cục thuế tỉnh Hải Dương
Trả lời Công văn số 711/CT-TTHT ngày 18/3/2008 của Cục thuế tỉnh Hải Dương về xác định thời điểm áp dụng giá đất; Bộ Tài chính có ý kiến như sau:
1- Về hồ sơ hợp lệ:
Tại khoản 1 Điều 135; khoản 1 Điều 136 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP quy định về hồ sơ để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bao gồm:
- Khoản 1 Điều 135 quy định:
“1. Hộ gia đình, cá nhân nộp tại Ủy ban nhân dân xã, thị trấn nơi có đất một (01) bộ hồ sơ gồm có:
a) Đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
b) Một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai (nếu có);
c) Văn bản ủy quyền xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (nếu có)”.
- Khoản 1 Điều 136 quy định:
“1. Hộ gia đình, cá nhân nộp một (01) bộ hồ sơ gồm có:
a) Đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
b) Một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai (nếu có);
c) Văn bản ủy quyền xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (nếu có).”
Như vậy, hồ sơ hợp lệ để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bao gồm các loại giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều 135; khoản 1 Điều 136 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ; Việc viện dẫn Thông tư liên tịch số 30/2005/TTLT/BTC-BTNMT ngày 18/4/2005 của liên Bộ Tài chính - Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ nghĩa vụ tài chính để xem là hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không phù hợp.
2- Về thời điểm áp dụng để xác định nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất:
Theo quy định tại khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 4 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 27/7/2007 của Chính phủ thì:
“Điều 4. Thời điểm xác định nghĩa vụ tài chính khi nộp hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận hoặc xin chuyển mục đích sử dụng đất, xin giao đất hoặc thuê đất
...
2. Trường hợp người sử dụng đất đã nộp đủ hồ sơ hợp lệ xin cấp Giấy chứng nhận, xin chuyển mục đích sử dụng đất tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước ngày 01 tháng 01 năm 2005 (ngày áp dụng giá đất mới theo quy định tại Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất - gọi là Nghị định số 188/2004/NĐ-CP) nhưng do cơ quan chức năng chậm làm thủ tục hoặc hướng dẫn lập hồ sơ không đúng quy định, do thay đổi mẫu tờ khai, thay đổi thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận hoặc thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất mà làm cho người sử dụng đất phải nộp lại hoặc nộp bổ sung hồ sơ thì nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước của người nộp hồ sơ được xác định tại thời điểm đã nộp hồ sơ.
3. Trường hợp người sử dụng đất nộp hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận, hồ sơ xin chuyển mục đích sử dụng đất tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền từ ngày 01 tháng 01 năm 2005 trở về sau thì giá đất áp dụng để xác định nghĩa vụ tài chính là giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm nộp đủ hồ sơ hợp lệ. Nếu cơ quan chức năng chậm làm thủ tục hoặc hướng dẫn lập hồ sơ không đúng quy định thì người nộp hồ sơ thực hiện quyền khiếu nại đối với hành vi hành chính gây chậm trễ trong việc xử lý hồ sơ; công chức, viên chức có hành vi gây chậm trễ trong việc xử lý hồ sơ hoặc hướng dẫn lập hồ sơ không đúng quy định thì phải bị xử lý kỷ luật theo quy định tại Điều 175 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai (gọi là Nghị định số 181/2004/NĐ-CP); nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước của người nộp hồ sơ được xác định tại thời điểm đã nộp đủ hồ sơ hợp lệ.
4. Căn cứ vào Sổ tiếp nhận hồ sơ hoặc giấy biên nhận về tiếp nhận hồ sơ, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đã tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm xác nhận bằng văn bản về thời điểm người sử dụng đất nộp đủ hồ sơ hợp lệ theo quy định tại khoản 2 Điều này và chuyển cho cơ quan thuế để làm căn cứ tính các khoản thu nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất.”
Căn cứ quy định trên thì thời điểm xác định nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là thời điểm đã nộp đủ hồ sơ hợp lệ cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền (UBND xã, phường...); thời điểm cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc thời điểm nộp tờ khai thực hiện nghĩa vụ tài chính đều không được coi là thời điểm nộp đủ hồ sơ hợp lệ theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 4 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP.
Việc xác nhận thời điểm nộp đủ hồ sơ hợp lệ thuộc thẩm quyền của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất hoặc Uỷ ban nhân dân cấp xã theo khoản 4 Điều 4 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP.
Bộ Tài chính trả lời để Cục thuế tỉnh Hải Dương phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường để thực hiện theo đúng quy định./.
|
Nơi nhận: | TL. BỘ TRƯỞNG |
- 1Nghị định 84/2007/NĐ-CP bổ sung quy định về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai
- 2Thông tư liên tịch 30/2005/TTLT-BTC-BTNMT hướng dẫn luân chuyển hồ sơ của người sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính do Bộ Tài chính - Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành
- 3Nghị định 188/2004/NĐ-CP về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất
- 4Nghị định 181/2004/NĐ-CP thi hành Luật Đất đai
- 5Luật Đất đai 2003
Công văn số 4420/BTC-QLCS về việc xác định thời điểm áp dụng giá đất do Bộ Tài chính ban hành
- Số hiệu: 4420/BTC-QLCS
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 16/04/2008
- Nơi ban hành: Bộ Tài chính
- Người ký: Phạm Đình Cường
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 16/04/2008
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
