Giới thiệu chung về Công văn số 4413/TCT-CS
Công văn số 4413/TCT-CS do Tổng cục Thuế ban hành là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng dành cho các Cục Thuế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về thuế. Văn bản tập trung làm rõ các nguyên tắc, trình tự và thủ tục xử phạt vi phạm hành chính đối với người nộp thuế có hành vi vi phạm, đặc biệt là trong các trường hợp có sự giao thoa giữa xử lý hành chính và xử lý hình sự.
Nội dung cốt lõi và hướng dẫn xử lý vi phạm pháp luật về thuế
Dưới đây là các nội dung trọng tâm được Tổng cục Thuế hướng dẫn chi tiết nhằm thống nhất áp dụng pháp luật trên toàn quốc:
- Nguyên tắc xử lý khi có dấu hiệu tội phạm trốn thuế: Đối với các vụ việc vi phạm pháp luật về thuế có dấu hiệu tội phạm, cơ quan thuế có trách nhiệm chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra có thẩm quyền để tiến hành khởi tố, điều tra theo quy định của pháp luật hình sự. Trong thời gian cơ quan điều tra thụ lý, cơ quan thuế tạm thời chưa thực hiện xử phạt vi phạm hành chính về thuế đối với hành vi này.
- Xử lý hành chính khi cơ quan điều tra không khởi tố: Trường hợp cơ quan điều tra, cơ quan tiến hành tố tụng hình sự ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, hoặc đình chỉ điều tra mà hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính về thuế, hồ sơ sẽ được chuyển trả lại cho cơ quan thuế để xử phạt hành chính theo thẩm quyền.
- Thời hạn và thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính: Thời hạn để cơ quan thuế ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các vụ việc do cơ quan tố tụng chuyển trả được thực hiện theo quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 125/2020/NĐ-CP. Thời gian cơ quan tố tụng thụ lý, xem xét hồ sơ không được tính vào thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính, đảm bảo quyền lợi thu hồi ngân sách nhà nước không bị ảnh hưởng bởi sự kéo dài của quá trình điều tra.
- Xác định hành vi trốn thuế và áp dụng mức phạt: Công văn nhấn mạnh việc phân biệt rõ ràng giữa hành vi trốn thuế (bị xử phạt từ 1 đến 3 lần số thuế trốn) và hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn (bị xử phạt 20% số tiền thuế thiếu hoặc tiền thuế đã hoàn cao hơn). Việc áp dụng mức phạt phải dựa trên chứng cứ khách quan, biên bản kiểm tra, thanh tra thuế và kết luận của cơ quan chức năng.
- Tính tiền chậm nộp thuế: Việc tính tiền chậm nộp đối với các khoản thuế truy thu được thực hiện liên tục từ ngày tiếp theo ngày phát sinh hành vi vi phạm cho đến ngày người nộp thuế nộp đủ số tiền thuế vào ngân sách nhà nước, không phụ thuộc vào việc hồ sơ vụ việc có bị chuyển sang cơ quan điều tra hay không.
Ý nghĩa và tác động của văn bản đối với công tác quản lý thuế
Công văn số 4413/TCT-CS đóng vai trò là kim chỉ nam giúp các cơ quan thuế địa phương thống nhất phương án xử lý đối với các hồ sơ vi phạm phức tạp. Việc làm rõ ranh giới giữa xử lý hành chính và hình sự giúp:
- Đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, tránh việc bỏ lọt tội phạm cũng như tránh hình sự hóa các quan hệ kinh tế, dân sự thông thường.
- Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế khi họ chủ động khắc phục hậu quả hoặc hành vi vi phạm chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
- Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa cơ quan thuế và cơ quan điều tra trong việc đấu tranh phòng, chống các hành vi gian lận, trốn thuế, trục lợi tiền hoàn thuế từ ngân sách nhà nước.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số:4413/TCT-CS | Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2008 |
Kính gửi: Cục Thuế tỉnh Bến Tre
Trả lời công văn số 649/CT-TTr ngày 03/9/2008 của Cục Thuế tỉnh Bến Tre về việc xử lý vi phạm pháp luật về thuế, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
1. Tại điểm a, điểm d khoản 1 Điều 13 Nghị định số 98/2007/NĐ-CP ngày 7/6/2007 của Chính phủ quy định về xử phạt đối với hành vi khai sai:
"a) Hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, tăng số thuế được miễn, giảm, nhưng người nộp thuế đã ghi chép kịp thời, đầy đủ, trung thực các nghiệp vụ kinh tế làm phát sinh nghĩa vụ thuế trên sổ kế toán, hoá đơn, chứng từ;"
"d) Sử dụng hoá đơn, chứng từ bất hợp pháp để hạch toán giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được giảm, nhưng khi cơ quan thuế kiểm tra phát hiện, người mua chứng minh được lỗi vi phạm sử dụng hoá đơn bất hợp pháp thuộc về bên bán hàng và người mua đã hạch toán kế toán đầy đủ theo quy định."
Như vậy, theo các hướng dẫn trên thì người nộp thuế đã phản ánh đầy đủ, trung thực, kịp thời các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh liên quan vào sổ sách kế toán, các báo cáo tài chính nhưng chưa xác định đúng nghĩa vụ nộp thuế theo quy định dẫn đến kê khai thiếu số tiền thuế phải nộp. Khi phát hiện ra sai số thì người nộp thuế phải nộp đầy đủ số thuế khai thiếu, nộp phạt về hành vi khai sai không phụ thuộc vào thời điểm trước hay sau khi cơ quan thuế lập biên bản kiểm tra thuế, kết luận thanh tra thuế.
2. Tại điểm b, c khoản 1 Điều 13 Nghị định 98/2007/NĐ-CP quy định về xử phạt đối với hành vi khai sai:
"b) Hành vi khai sai của người nộp thuế làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, số thuế được miễn, giảm không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này nhưng khi bị cơ quan có thẩm quyền phát hiện, người vi phạm đã tự giác nộp đủ số tiền thuế khai thiếu vào ngân sách nhà nước trước thời điểm cơ quan thuế lập biên bản kiểm tra thuế, kết luận thanh tra thuế;
c) Hành vi khai sai của người nộp thuế làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, số thuế được miễn, số thuế được giảm đã bị cơ quan có thẩm quyền lập biên bản kiểm tra thuế, kết luận thanh tra thuế xác định là có hành vi khai man trốn thuế, nhưng nếu người nộp thuế vi phạm lần đầu, có tình tiết giảm nhẹ và đã tự giác nộp đủ số tiền thuế vào ngân sách nhà nước trước thời điểm cơ quan có thẩm quyền ra quyết định xử lý thì cơ quan thuế lập biên bản ghi nhận để xác định lại hành vi khai thiếu thuế;"
Theo đó, trường hợp người nộp thuế có hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp theo quy định tại 02 điểm nêu trên mà người nộp thuế tự giác nộp đủ tiền thuế thiếu vào NSNN trước thời điểm cơ quan có thẩm quyền lập biên bản kiểm tra thuế, kết luận thanh tra thuế hoặc ra quyết định xử lý thì số tiền thuế đã nộp nêu trên được hạch toán chung vào số thuế đã nộp NSNN khi xác định quan hệ với NSNN trên biên bản kiểm tra thuế, kết luận thanh tra thuế.
Tổng cục Thuế thông báo Cục Thuế tỉnh Bến Tre được biết./.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
Công văn số 4413/TCT-CS về việc xử lý vi phạm pháp luật về thuế do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 4413/TCT-CS
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 20/11/2008
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Phạm Duy Khương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 20/11/2008
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
