Tóm tắt Công văn số 43/TCT-CS về việc thu tiền sử dụng đất
Công văn số 43/TCT-CS do Tổng cục Thuế ban hành là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng nhằm tháo gỡ các vướng mắc và thống nhất quy trình triển khai thu tiền sử dụng đất. Văn bản tập trung vào việc xác định nghĩa vụ tài chính, áp dụng giá đất và quy trình phối hợp giữa các cơ quan liên quan để đảm bảo nguồn thu ngân sách nhà nước được thực hiện đúng quy định pháp luật.
1. Nguyên tắc xác định nghĩa vụ tài chính và tiền sử dụng đất
Công văn hướng dẫn chi tiết về các căn cứ pháp lý và thời điểm xác định nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất khi được giao đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất:
- Thời điểm tính tiền sử dụng đất: Được xác định tại thời điểm cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành quyết định giao đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất hoặc quyết định công nhận quyền sử dụng đất.
- Giá đất tính thu tiền sử dụng đất: Áp dụng theo bảng giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định hoặc giá đất cụ thể được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt tại thời điểm xác định nghĩa vụ tài chính.
- Xác định diện tích đất tính thuế: Căn cứ vào diện tích đất thực tế được giao hoặc cho phép chuyển mục đích sử dụng ghi trên quyết định hành chính và hồ sơ địa chính được cơ quan tài nguyên và môi trường chuyển sang.
2. Quy trình luân chuyển hồ sơ xác định nghĩa vụ tài chính
Để đảm bảo tính kịp thời và chính xác trong công tác quản lý thuế đất đai, quy trình phối hợp liên cơ quan được quy định chặt chẽ:
- Trách nhiệm của cơ quan tài nguyên và môi trường: Thực hiện tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ của người sử dụng đất và luân chuyển đầy đủ thông tin địa chính sang cơ quan thuế trong thời hạn quy định.
- Trách nhiệm của cơ quan thuế: Tiếp nhận hồ sơ địa chính, thực hiện kiểm tra, đối chiếu thông tin để xác định số tiền sử dụng đất phải nộp, các khoản được giảm trừ (nếu có) và ban hành thông báo nộp tiền sử dụng đất gửi đến người nộp thuế.
- Thời hạn hoàn thành nghĩa vụ: Người sử dụng đất có trách nhiệm nộp tiền sử dụng đất vào ngân sách nhà nước theo đúng thời hạn và phương thức được ghi trên thông báo của cơ quan thuế để tránh phát sinh tiền chậm nộp.
3. Hướng dẫn xử lý các trường hợp vướng mắc đặc thù
Tổng cục Thuế đưa ra các định hướng giải quyết cụ thể đối với một số trường hợp phát sinh tranh chấp hoặc chậm trễ trong thực tế:
- Xử lý chậm trễ do lỗi khách quan: Trường hợp việc chậm ban hành thông báo thuế do lỗi của cơ quan nhà nước trong khâu luân chuyển hồ sơ, cần xác định rõ trách nhiệm để không gây ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của người nộp thuế.
- Áp dụng chính sách miễn, giảm: Việc thực hiện miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với các đối tượng ưu tiên (như hộ nghèo, gia đình chính sách, đồng bào dân tộc thiểu số hoặc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn) phải tuân thủ nghiêm ngặt các điều kiện và thủ tục hồ sơ theo quy định pháp luật hiện hành.
- Giải quyết chênh lệch giá đất: Hướng dẫn nguyên tắc áp dụng giá đất trong trường hợp có sự thay đổi về bảng giá đất hoặc chính sách thu tiền sử dụng đất giữa thời điểm nộp hồ sơ hợp lệ và thời điểm cơ quan thuế ra thông báo nộp tiền.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 43/TCT-CS | Hà Nội, ngày 5 tháng 1 năm 2009 |
Kính gửi: Cục Thuế tỉnh Tiền Giang
Trả lời Công văn số 976/CT-THNVDT ngày 07/11/2008 của Cục Thuế tỉnh Tiền Giang về thu tiền sử dụng đất, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau;
1) Thu tiền sử dụng đất đối với nhà thanh lý trước ngày 15/10/1993:
- Tại Điều 5 Luật Đất đai năm 1987 quy định; "Nghiêm cấm việc mua, bán, lấn chiếm, đất đai, phát canh thu tô dưới mọi hình thức, nhận đất được giao mà không sử dụng, sử dụng không đúng mục đích, tự tiện sử dụng đất nông nghiệp, đất có rừng vào mục đích khác, làm huỷ hoại đất đai."
- Tại tiết b, điểm 6 Thông tư số 02/BXD/ĐT ngày 9/4/1992 của Bộ Xây dựng hướng dẫn thực hiện ý kiến của thường trực Hội đồng Bộ trưởng về việc hoá giá nhà cấp III, cấp IV tại các đô thị, hướng dẫn: "b) Nhà nước chỉ bán nhà, không bán đất (điều này được ghi rõ trong văn bản giao quyền sở hữu nhà cho người mua). Trường hợp nhà có sân, vườn thì người mua nhà phải trả tiền thuê đối với phần diện tích khu đất ngoài nhà theo quy định chung."
- Tại điểm a, Mục 1 Nghị quyết số 48/2007/NQ-CP ngày 30/8/2007 của Chính phủ về việc điều chỉnh một số nội dung chính sách bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước cho người đang thuê theo Nghị định số 61/CP ngày 05/7/1994 của Chính phủ và giá cho thuê nhà ở thuộc sở hữu nhà nước chưa được cải tạo, xây dựng lại quy định. "Đối với những nhà không có nguồn gốc là nhà ở mà đã được các cơ quan, đơn vị bố trí làm nhà ở thì thực hiện quản lý theo quy định sau:
a) Trường hợp bố trí làm nhà ở trước ngày ban hành Quyết định số 118/TTg ngày 27 tháng 11 năm 1992 của Thủ tướng Chính phủ về giá cho thuê nhà ở và đưa tiền nhà ở vào tiền lương (sau đây gọi tắt là Quyết định số 118/TTg) mà khu đất đã bố trí làm nhà ở là một khuôn viên độc lập hoặc có thể tách biệt khỏi khuôn viên trụ sở, cơ quan; có lối đi riêng, không che chắn mặt tiền trụ sở, cơ quan; không ảnh hưởng đến không gian, cảnh quan xung quanh; cơ quan, đơn vị không có nhu cầu sử dụng và phù hợp với quy hoạch sử dụng đất ở tại địa phương đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì thực hiện chuyển giao cho Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh (nơi có nhà đó) quản lý; Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện bán nhà đó cho người đang thuê theo quy định tại Nghị định số 61/CP".
Căn cứ quy định nêu trên thì Nhà nước chỉ bán nhà, không bán đất, người mua phải thuê đất của nhà nước đối với phần diện tích sân, vườn (nếu có). Đất vẫn do Nhà nước quản lý. Hộ gia đình, cá nhân khi mua nhà thanh lý chưa trả tiền đất, nên khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định.
2. Thu tiền sử dụng đất đối với diện tích đo đạc thực tế có chênh lệch so với diện tích ghi trên giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà:
Tại Điều 18 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai, quy định: "1. Trường hợp số liệu đo đạc thực tế theo đúng quy phạm kỹ thuật về đo đạc địa chính mà diện tích thửa đất nhỏ hơn diện tích đã ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất thì Giấy chứng nhận được cấp theo số liệu diện tích đo đạc thực tế, người sử dụng đất không được truy nhận số tiền sử dụng đất đã nộp (nếu có) đối với phần diện tích ít hơn so với diện tích đất ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất.
2. Trường hợp số liệu đo đạc thực tế theo đúng quy phạm kỹ thuật về đo đạc địa chính mà diện tích thửa đất lớn hơn diện tích đã ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất thì giải quyết theo quy định sau:
a) Trường hợp ranh giới thửa đất hiện nay không thay đổi so với thời điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất, không có tranh chấp với những người sử dụng đất liền kề mà diện tích đo đạc thực tế khi cấp Giấy chứng nhận nhiều hơn diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất thì Giấy chứng nhận được cấp theo diện tích đo đạc thực tế; người sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất đối với phần diện tích nhiều hơn so với diện tích đất ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất;
b) Trường hợp ranh giới thửa đất hiện nay có thay đổi so với thời điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất mà diện tích đất đo đạc thực tế nhiều hơn diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất nay được Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận diện tích nhiều hơn là do khai hoang hoặc nhận chuyển quyền của người sử dụng đất trước đó, đất đã được sử dụng ổn định và không có tranh chấp thì Giấy chứng nhận được cấp cho toàn bộ diện tích đo đạc thực tế của thửa đất và thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai đối với phần diện tích chênh lệch theo quy định của pháp luật về đất đai
c) Trường hợp ranh giới thửa đất hiện nay có thay đổi so với thời điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất mà diện tích đất đo đạc thực tế nhiều hơn diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất nay được Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận diện tích nhiều hơn là do lấn, chiếm thì xử lý theo quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 14 hoặc khoản 2 Điều 15 Nghị định này."
Căn cứ quy định nêu trên, đề nghị Cục Thuế tỉnh Tiền Giang phối hợp với các cơ quan liên quan, tài nguyên và môi trường, UBND cấp xã để xác định nguồn gốc đất, tình trạng đất làm căn cứ thu tiền sử dụng đất.
Tổng cục Thuế trả lời Cục Thuế tỉnh Tiền Giang được biết./.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1Nghị định 84/2007/NĐ-CP bổ sung quy định về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai
- 2Luật Đất đai 1987
- 3Quyết định 118-TTg năm 1992 về giá cho thuê nhà ở vào tiền lương do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 4Nghị định 61-CP năm 1994 về việc mua bán và kinh doanh nhà ở
- 5Nghị quyết số 48/2007/NQ-CP Về việc điều chỉnh một số nội dung chính sách bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước cho người đang thuê theo Nghị định số 61/CP ngày 05 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ và giá cho thuê nhà ở thuộc sở hữu nhà nước chưa được cải tạo, xây dựng lại do Chính phủ ban hành
Công văn số 43/TCT-CS về việc thu tiền sử dụng đất do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 43/TCT-CS
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 05/01/2009
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Phạm Duy Khương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 05/01/2009
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
