Tóm tắt Công văn số 416/TCT-TS của Tổng cục Thuế về chính sách thu tiền sử dụng đất
Công văn số 416/TCT-TS là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng do Tổng cục Thuế ban hành nhằm giải quyết các vướng mắc phát sinh, đồng thời thống nhất phương án xử lý các vấn đề liên quan đến chính sách thu tiền sử dụng đất tại các địa phương. Văn bản này hướng tới việc đảm bảo thực thi đúng quy định pháp luật về đất đai và nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất đối với ngân sách nhà nước.
Phạm vi áp dụng và đối tượng điều chỉnh của chính sách
Công văn tập trung làm rõ các quy định về nghĩa vụ tài chính khi Nhà nước giao đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân. Các nội dung trọng tâm bao gồm:
- Xác định đối tượng nộp tiền sử dụng đất: Hướng dẫn cụ thể về các trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ tài chính khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao đất hoặc cho phép chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai.
- Chính sách miễn, giảm tiền sử dụng đất: Làm rõ điều kiện, hồ sơ và thủ tục để người sử dụng đất được hưởng các chính sách ưu đãi, miễn hoặc giảm tiền sử dụng đất đối với các đối tượng chính sách, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc các dự án khuyến khích đầu tư.
Nguyên tắc xác định và tính thu tiền sử dụng đất
Tổng cục Thuế đưa ra các chỉ đạo chi tiết về phương pháp tính và thời điểm xác định nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất:
- Thời điểm tính tiền sử dụng đất: Xác định chính xác thời điểm bàn giao đất thực tế hoặc thời điểm có quyết định giao đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm căn cứ áp dụng giá đất và các chính sách thuế liên quan.
- Áp dụng giá đất tính tiền sử dụng đất: Hướng dẫn việc áp dụng bảng giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định hoặc giá đất cụ thể được xác định theo các phương pháp định giá đất hợp pháp tại thời điểm phát sinh nghĩa vụ tài chính.
- Khấu trừ chi phí bồi thường, giải phóng mặt bằng: Quy định nguyên tắc và thủ tục khấu trừ chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư (nếu có) vào tiền sử dụng đất phải nộp theo đúng quy định của pháp luật, đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các chủ đầu tư.
Trách nhiệm triển khai và phối hợp của cơ quan thuế địa phương
Để đảm bảo công tác quản lý thu tiền sử dụng đất được thực hiện hiệu quả, minh bạch và đúng pháp luật, Tổng cục Thuế yêu cầu các đơn vị trực thuộc triển khai các nhiệm vụ sau:
- Tăng cường phối hợp liên ngành: Các Cục Thuế địa phương cần chủ động phối hợp chặt chẽ với Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài chính để xác định chính xác nguồn gốc đất, vị trí đất và các thông tin địa chính làm cơ sở tính tiền sử dụng đất.
- Đẩy nhanh tiến độ giải quyết hồ sơ: Tập trung xử lý dứt điểm các hồ sơ nghĩa vụ tài chính về đất đai còn tồn đọng, tránh gây phiền hà, chậm trễ ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của người dân và doanh nghiệp.
- Thanh tra, kiểm tra và giám sát: Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện nghĩa vụ tài chính đất đai, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, trốn thuế hoặc trục lợi chính sách.
Công văn số 416/TCT-TS đóng vai trò thiết thực trong việc tháo gỡ các nút thắt pháp lý, tạo sự đồng bộ trong việc thực thi chính sách tài chính đất đai, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và minh bạch hóa thị trường bất động sản.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 416/TCT-TS | Hà Nội, ngày 22 tháng 01 năm 2007 |
Kính gửi: Cục thuế tỉnh Quảng Nam
Trả lời công văn số 5136/CT-TTHT ngày 01/12/2006 của Cục thuế tỉnh Quảng Nam về việc đề nghị hướng dẫn chính sách thuế, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
1. Tại Điều 50 Luật Đất đai năm 2003:
- Khoản 1 (đ) quy định hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định, được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất: "đ) Giấy tờ về thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định của pháp luật".
- Khoản 2 quy định: "2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, nay được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất".
Căn cứ theo quy định trên, trường hợp hộ gia đình đang sử dụng đất nếu có giấy tờ về thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định của pháp luật, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất kể từ ngày Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất có hiệu lực thi hành thì không phải nộp tiền sử dụng đất đối với thửa đất có nhà ở tương ứng diện tích đất ở ghi trên giấy tờ về thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở (Trong quá trình sử dụng từ khi có giấy tờ về thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở đến khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hộ gia đình cán bộ này có chuyển nhượng một phần diện tích đất ở ghi trên giấy tờ về thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở cho người khác thì người nhận chuyển nhượng cũng không phải nộp tiền sử dụng đất).
Trường hợp trên giấy tờ về thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định của pháp luật của hộ gia đình này không ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được xác định căn cứ hạn mức giao đất ở tại địa phương do Ủy ban nhân dân tỉnh quy định áp dụng tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Đối với phần diện tích đất ngoài diện tích đất ở ghi trên giấy tờ về thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở, hộ gia đình cán bộ này hoặc người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ hộ gia đình này phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định.
2. Tại Khoản 5 Điều 87 Luật Đất đai năm 2003 quy định: "5. Đối với trường hợp không có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật này thì diện tích đất ở có vườn, ao được xác định theo mức đất ở giao cho mỗi hộ gia đình, cá nhân quy định tại khoản 2 Điều 83 và khoản 5 Điều 84 của Luật này".
Tại Khoản 2 Điều 45 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai quy định: "2. Trường hợp đất ở có vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở thuộc khu dân cư được sử dụng trước ngày 18 tháng 12 năm 1980 mà trong hồ sơ địa chính hoặc các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai có ghi nhận rõ ranh giới thửa đất ở (hoặc thổ cư) thì toàn bộ diện tích đất đó được xác định là đất ở theo quy định tại khoản 2 Điều 87 của Luật Đất đai; trường hợp ranh giới thửa đất chưa được xác định trong hồ sơ địa chính hoặc trên các giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai thì diện tích đất ở được xác định không quá năm (05) lần hạn mức diện tích giao đất ở của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định tại khoản 2 Điều 83 và khoản 5 Điều 84 của Luật Đất đai nhưng tổng diện tích không vượt quá diện tích đất mà hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng; phần diện tích đất còn lại sau khi đã xác định thửa đất ở thì được xác định theo hiện trạng sử dụng đất".
Do vậy, trường hợp hộ gia đình A sử dụng thửa đất có nhà ở ổn định trước ngày 18/12/1980, nay được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với nơi đã có quy hoạch sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phải nộp tiền sử dụng đất như sau:
- Nếu không có một trong các giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 thì diện tích đất ở trong hạn mức giao đất ở do Ủy ban nhân dân tỉnh quy định áp dụng tại địa phương không phải nộp tiền sử dụng đất. Nếu có một trong các giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 thì diện tích đất ở được xác định theo quy định tại Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 thì diện tích đất ở được xác định theo quy định tại Điều 45 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP nêu trên và người nhận chuyển nhượng phần diện tích đất được công nhận là đất ở cũng không phải nộp tiền sử dụng đất (người nhận chuyển nhượng phần diện tích đất này từ hộ gia đình A cũng không phải nộp tiền sử dụng đất).
- Phần diện tích đất còn lại không được công nhận là đất ở khi được phép chuyển mục đích sử dụng đất thì phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định. Trường hợp nếu hộ gia đình A không đăng ký quyền sử dụng đất mà chuyển nhượng một phần diện tích đất này cho người khác sau ngày 15/10/1993 thì người nhận chuyển nhượng phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định.
3. Tại Khoản 6, Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 quy định: "6. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này nhưng đất đã được sử dụng từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành, nay được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với nơi đã có quy hoạch sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của Chính phủ".
Do vậy, trường hợp hộ gia đình ông C sử dụng thửa đất có nhà ở, không có giấy tờ quy định tại Khoản 1 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003, nay được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với nơi đã có quy hoạch sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phải nộp tiền sử dụng đất như sau:
- Nếu sử dụng ổn định trước ngày 15/10/1993 thì thực hiện theo hướng dẫn tại điểm 2 nêu trên.
- Nếu sử dụng ổn định từ ngày 15/10/1993 trở đi thì phải nộp tiền sử dụng đất theo loại đất ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trường hợp hộ gia đình ông C không đăng ký quyền sử dụng đất mà chuyển nhượng cho người khác thì người nhận chuyển nhượng phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định.
Tổng cục Thuế thông báo để Cục thuế tình Quảng Nam biết và thực hiện./.
| Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
Công văn số 416/TCT-TS của Tổng cục Thuế về việc chính sách thu tiền sử dụng đất
- Số hiệu: 416/TCT-TS
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 22/01/2007
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Phạm Duy Khương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 22/01/2007
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
