Công văn số 3744/BTP-HCTP do Bộ Tư pháp ban hành là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng nhằm tháo gỡ các vướng mắc và thống nhất quy trình thực hiện công chứng các giao dịch bảo đảm trên phạm vi cả nước. Văn bản đóng vai trò định hướng cho các tổ chức hành nghề công chứng và công chứng viên thực hiện đúng quy định pháp luật, bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên tham gia giao dịch.
- Thông tin chung về văn bản hướng dẫn
- Tên văn bản: Công văn số 3744/BTP-HCTP về việc công chứng giao dịch bảo đảm.
- Cơ quan ban hành: Bộ Tư pháp.
- Mục tiêu ban hành: Hướng dẫn chi tiết về thẩm quyền, hồ sơ, thủ tục và trách nhiệm của công chứng viên khi thực hiện công chứng các hợp đồng, giao dịch bảo đảm (như thế chấp, cầm cố, bảo lãnh).
- Nội dung cốt lõi của phần mở đầu và các điều khoản đầu (Điều 1 đến Điều 4)
Phần mở đầu và các điều khoản đầu tiên của văn bản tập trung thiết lập các nguyên tắc nền tảng và quy trình chuẩn bị cho việc công chứng giao dịch bảo đảm:
- Xác định phạm vi các giao dịch bảo đảm phải công chứng: Làm rõ các trường hợp giao dịch bảo đảm bắt buộc phải công chứng theo quy định của pháp luật (như thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất) và các trường hợp công chứng theo thỏa thuận tự nguyện của các bên.
- Thẩm quyền địa giới hành chính trong công chứng bất động sản: Quy định cụ thể về việc tổ chức hành nghề công chứng chỉ được công chứng hợp đồng thế chấp bất động sản trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có bất động sản đó, nhằm bảo đảm tính giám sát và quản lý chặt chẽ của địa phương.
- Yêu cầu về hồ sơ yêu cầu công chứng: Liệt kê chi tiết các giấy tờ pháp lý mà người yêu cầu công chứng phải xuất trình, bao gồm giấy tờ tùy thân, giấy tờ chứng minh quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản bảo đảm và các văn bản liên quan đến nghĩa vụ được bảo đảm.
- Nghĩa vụ kiểm tra và xác minh của Công chứng viên: Quy định công chứng viên phải có trách nhiệm kiểm tra kỹ lưỡng tình trạng pháp lý của tài sản bảo đảm (có bị ngăn chặn, tranh chấp hay đã được thế chấp trước đó hay chưa) và năng lực hành vi dân sự của các bên trước khi ký đóng dấu.
- Ý nghĩa thực tiễn và tác động đối với hệ thống pháp luật
Việc triển khai các nội dung hướng dẫn từ Điều 1 đến Điều 4 của Công văn số 3744/BTP-HCTP giúp hạn chế tối đa các rủi ro tranh chấp phát sinh trong hoạt động tín dụng, ngân hàng. Đồng thời, văn bản tạo ra cơ chế phối hợp đồng bộ giữa cơ quan công chứng và cơ quan đăng ký biện pháp bảo đảm, góp phần bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan và thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của thị trường tài chính.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TƯ PHÁP | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT |
| Số: 3744/BTP-HCTP | Hà Nội, ngày 04 tháng 9 năm 2007 |
Kính gửi: Phòng Công chứng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Trong thời gian qua, Bộ Tư pháp nhận được phản ánh của một số tổ chức, cá nhân gặp vướng mắc khi yêu cầu công chứng giao dịch bảo đảm. Nhằm thống nhất trong việc áp dụng pháp luật về công chứng đối với giao dịch bảo đảm, Bộ Tư pháp có ý kiến như sau:
1. Về công chứng hợp đồng thế chấp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong tương lai
Khoản 2 Điều 319 của Bộ luật dân sự quy định: “Các bên được thoả thuận về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự để bảo đảm thực hiện các loại nghĩa vụ, kể cả nghĩa vụ hiện tại, nghĩa vụ trong tương lai hoặc nghĩa vụ có điều kiện”.
Theo quy định tại Điều 3 của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm (sau đây gọi là Nghị định số 163/2006/NĐ-CP) thì “nghĩa vụ được bảo đảm là một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ dân sự, có thể là nghĩa vụ hiện tại, nghĩa vụ trong tương lai hoặc nghĩa vụ có điều kiện mà việc thực hiện nghĩa vụ đó được bảo đảm bằng một hoặc nhiều giao dịch bảo đảm” (khoản 5) và “nghĩa vụ trong tương lai là nghĩa vụ dân sự mà giao dịch dân sự làm phát sinh nghĩa vụ đó được xác lập sau khi giao dịch bảo đảm được giao kết” (khoản 6).
Như vậy, theo các quy định nêu trên thì tổ chức, cá nhân có quyền ký kết giao dịch bảo đảm nói chung và hợp đồng thế chấp tài sản nói riêng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong tương lai. Trong trường hợp này, do nghĩa vụ được bảo đảm (ví dụ: nghĩa vụ trả nợ trong các hợp đồng vay) chưa được xác lập tại thời điểm ký kết giao dịch bảo đảm nói chung và hợp đồng thế chấp tài sản nói riêng, nên việc yêu cầu phải ghi cụ thể về lãi suất, số tiền vay, thời hạn vay và các nội dung khác về hợp đồng sẽ ký trong tương lai là không phù hợp với quy định của pháp luật.
2. Về công chứng hợp đồng thế chấp một tài sản để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ
Theo quy định tại khoản 1 Điều 324 của Bộ luật dân sự và Điều 5 của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP thì các bên có quyền thoả thuận dùng một tài sản để bảo đảm thực hiện thực hiện nhiều nghĩa vụ và thoả thuận về việc tài sản đó có giá trị nhỏ hơn, bằng hoặc lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm (nghĩa vụ được bảo đảm có thể là một phần hoặc toàn bộ khoản vay). Do đó, khi các bên đã thoả thuận rõ về phạm vi nghĩa vụ được bảo đảm theo Điều 5 của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP thì việc yêu cầu các bên phải xoá đăng ký thế chấp đối với hợp đồng thế chấp trước, rồi mới thực hiện công chứng đối với hợp đồng thế chấp sau là không phù hợp với quy định của pháp luật.
Riêng đối với trường hợp thế chấp nhà ở theo quy định tại Điều 114 của Luật nhà ở thì giá trị tài sản nhà ở phải lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ và chỉ được thế chấp tại một tổ chức tín dụng.
3. Về việc công chứng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất trong cụm công nghiệp, tổ công nghiệp
Theo quy định tại điểm a khoản 10 Điều 2 của Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 21/01/2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật đất đai và Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần thì “trường hợp chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao thì phải có xác nhận của Ban quản lý khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao”.
Do đó, đối với những trường hợp không thuộc quy định nêu trên, ví dụ: thế chấp quyền sử dụng đất thuộc cụm công nghiệp, tổ công nghiệp, thế chấp đất ở... thì cụm công nghiệp, tổ công nghiệp không có thẩm quyền xác nhận hợp đồng thế chấp đó. Trong trường hợp này, các bên ký kết hợp đồng thế chấp có quyền yêu cầu công chứng viên thực hiện việc công chứng hợp đồng theo thủ tục do pháp luật quy định.
4. Về quy định “đối tượng của hợp đồng, giao dịch là có thật”
Một số công chứng viên cho rằng “đối tượng của hợp đồng, giao dịch là có thật” theo Điều 5 của Luật công chứng đã loại bỏ đối tượng của hợp đồng, giao dịch là tài sản hình thành trong tương lai theo quy định của Bộ luật dân sự và do đó đã không công chứng đối với các hợp đồng, giao dịch có đối tượng là tài sản hình thành trong tương lai. Cách hiểu như vậy là sai. Tài sản hình thành trong tương lai cũng được coi là tài sản có thật nếu có đầy đủ cơ sở pháp lý để chứng minh. Vì vậy, Bộ Tư pháp yêu cầu các công chứng viên không được từ chối công chứng hợp đồng, giao dịch thuộc loại này.
5. Về công chứng hợp đồng thế chấp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng cho vay theo hạn mức
Việc ngân hàng ký kết hợp đồng thế chấp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng cho vay theo hạn mức là hoạt động thuộc nghiệp vụ của ngân hàng và đã được pháp luật ngân hàng quy định. Mặt khác, hợp đồng bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng cho vay theo hạn mức là một dạng cụ thể của hợp đồng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong tương lai. Do đó, việc từ chối công chứng đối với hợp đồng bảo đảm có thoả thuận dùng để bảo đảm cho các khoản vay theo hạn mức (ví dụ: các bên thoả thuận “tài sản bảo đảm cho dư nợ tối đa là ... triệu đồng”) là không phù hợp với quy định của pháp luật.
Bộ Tư pháp yêu cầu các Phòng công chứng nghiên cứu, thực hiện./.
| Nơi nhận: | TL. BỘ TRƯỞNG |
Công văn số 3744/BTP-HCTP về việc công chứng giao dịch bảo đảm do Bộ tư pháp ban hành
- Số hiệu: 3744/BTP-HCTP
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 04/09/2007
- Nơi ban hành: Bộ Tư pháp
- Người ký: Trần Thất
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 04/09/2007
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
