Tóm tắt Công văn số 3684/TCT-CS về diện tích tính thuế nhà đất
Công văn số 3684/TCT-CS do Tổng cục Thuế ban hành là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng nhằm giải quyết các vướng mắc của cơ quan thuế địa phương và người nộp thuế trong việc xác định diện tích đất tính thuế sử dụng đất phi nông nghiệp (thường gọi là thuế nhà đất). Văn bản đưa ra các nguyên tắc xử lý cụ thể đối với từng trường hợp thực tế nhằm đảm bảo thu đúng, thu đủ và công bằng nghĩa vụ tài chính đất đai.
- Nguyên tắc xác định diện tích đất tính thuế đối với người sử dụng đất
- Đối với người sử dụng đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (Sổ đỏ/Sổ hồng): Diện tích tính thuế được xác định căn cứ vào diện tích ghi trên Giấy chứng nhận được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp.
- Đối với trường hợp diện tích đất sử dụng thực tế lớn hơn diện tích ghi trên Giấy chứng nhận: Diện tích tính thuế được xác định theo diện tích thực tế sử dụng. Người nộp thuế có nghĩa vụ kê khai và nộp thuế đối với toàn bộ phần diện tích thực tế này.
- Đối với đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Diện tích tính thuế là diện tích đất thực tế đang sử dụng, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hoặc tạm thời xác định để làm căn cứ tính thuế.
- Phương pháp phân bổ diện tích đất đối với nhà chung cư và công trình nhiều tầng
- Đối với nhà chung cư, nhà nhiều tầng có nhiều hộ sử dụng: Diện tích đất tính thuế của từng tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được xác định bằng cách lấy diện tích sàn sử dụng của từng đối tượng nhân với hệ số phân bổ đất.
- Hệ số phân bổ đất được xác định bằng diện tích đất xây dựng nhà chung cư, nhà nhiều tầng chia cho tổng diện tích sàn sử dụng của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong tòa nhà đó.
- Quy định này đảm bảo tính công bằng trong việc thực hiện nghĩa vụ tài chính giữa các chủ sở hữu căn hộ trong cùng một tòa nhà đối với phần diện tích đất dùng chung.
- Xử lý các trường hợp đất có sự tranh chấp hoặc chưa rõ ràng về diện tích
- Trong trường hợp đất đang có tranh chấp về quyền sử dụng đất và chưa được giải quyết dứt điểm: Người đang trực tiếp sử dụng đất có trách nhiệm kê khai và tạm nộp thuế theo diện tích thực tế đang quản lý, sử dụng cho đến khi có quyết định giải quyết tranh chấp cuối cùng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Đối với phần diện tích đất lấn, chiếm hoặc sử dụng không đúng mục đích: Cơ quan thuế phối hợp với cơ quan tài nguyên và môi trường địa phương để xác định chính xác diện tích và áp dụng mức thuế suất phạt hoặc thuế suất đối với đất sử dụng không đúng mục đích theo quy định của pháp luật hiện hành.
- Trách nhiệm phối hợp của cơ quan thuế và các cơ quan liên quan
- Tổng cục Thuế yêu cầu các Chi cục Thuế địa phương chủ động phối hợp chặt chẽ với Văn phòng Đăng ký đất đai và Ủy ban nhân dân cấp xã để đối chiếu, xác minh thông tin về diện tích đất của người nộp thuế khi có sự nghi ngờ hoặc không đồng nhất dữ liệu.
- Trường hợp phát hiện có sự sai lệch giữa thông tin trên tờ khai thuế của người dân và dữ liệu địa chính: Cơ quan thuế phải thực hiện kiểm tra, yêu cầu người nộp thuế giải trình hoặc điều chỉnh thông tin kê khai cho đúng thực tế trước khi ra thông báo nộp thuế chính thức.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hướng dẫn người nộp thuế tự giác kê khai trung thực diện tích đất đang sử dụng để tránh các chế tài xử phạt về chậm nộp hoặc trốn thuế.
Để tìm hiểu thêm các văn bản hướng dẫn chi tiết khác về thuế nhà đất và thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, quý độc giả có thể tham khảo trực tiếp tại website hethongphapluat.com.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 3684/TCT-CS | Hà Nội, ngày 02 tháng 10 năm 2008 |
Kính gửi: Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên
Trả lời công văn số 474/CT-THNVDT ngày 27/05/2008 của Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên đề nghị hướng dẫn về diện tích tính thuế nhà đất, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
- Tại điểm 1 và điểm 3 Mục II Thông tư số 83-TC/TCT ngày 7/10/1994 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 94-CP ngày 25/8/1994 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh về thuế nhà đất quy định: "I- Đối với đất thuộc thành phố, thị xã, thị trấn (dưới đây gọi chung là đô thị).
a) Diện tích đất tính thuế là toàn bộ diện tích đất của tổ chức, cá nhân quản lý sử dụng, bao gồm: diện tích mặt đất xây nhà ở, xây công trình, diện tích đường đi lại, diện tích sân, diện tích bao quanh nhà, bao quanh công trình, diện tích ao hồ và các diện tích để trống trong phạm vi đất được phép sử dụng theo giấy cấp đất của cơ quan có thẩm quyền. Trường hợp chưa có giấy cấp đất thì theo diện tích thực tế sử dụng", "3. Đối với đất ở, đất xây dựng công trình thuộc vùng nông thôn:
a) Diện tích đất tính thuế là toàn bộ diện tích đất thực tế quản lý sử dụng của tổ chức, cá nhân không thuộc diện nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp bao gồm: Diện tích mặt đất xây nhà ở, xây công trình (chuồng trại, chăn nuôi, bếp, sân, bể nước...), đất làm đường đi, diện tích đất để trống...
Xác định diện tích đất tính thuế ở nông thôn phải căn cứ vào sổ địa chính Nhà nước. ở những nơi chưa có sổ địa chính thì trên cơ sở tờ khai nộp thuế đất, thuế sử dụng đất nông nghiệp và ý kiến của cán bộ địa chính, được Uỷ ban nhân dân xã xác nhận.
Trường hợp hộ nộp thuế không kê khai hoặc kê khai không đúng thực tế thì cơ quan thuế phối hợp với cơ quan địa chính có sự tham gia của Uỷ ban nhân dân xã kiểm tra, xác định đúng diện tích đất chịu thuế".
- Tại điểm 1 Mục VI Phần I Thông tư số 60/2007/TT-BTC ngày 14/6/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế và hướng dẫn thi hành Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế quy định: "Cơ quan thuế phải hoàn trả tiền thuế, số tiền phạt thu không đúng và trả tiền lãi tính trên số tiền nộp thừa của tiền thuế, tiền phạt thu không đúng cho người nộp thuế, bên thứ ba trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ra quyết định giải quyết khiếu nại hoặc từ ngày nhận được quyết định xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Tiền lãi được tính theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố.
Quyết định xử lý của cơ quan có thẩm quyền bao gồm: Quyết định của cơ quan quản lý hành chính nhà nước có thẩm quyền hoặc bản án, quyết định của Toà án có thẩm quyền theo quy định của pháp luật".
Căn cứ quy định nêu trên thì việc tính thuế nhà đất trên toàn bộ diện tích đất ở ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp trước khi UBND tỉnh ban hành Quyết định số 1597/2007/QĐ-UBND ngày 10/8/2007 là đúng, quy định của pháp luật, cơ quan thuế không phải thực hiện tính lại thuế nhà đất và hoàn trả lại số tiền thuế đất đã nộp thừa do GCNQSDĐ cấp sai quy định. Đối với các hộ gia đình, cá nhân phải điều chỉnh diện tích đất ở theo quy định tại Quyết định số 1597/2007/QĐ-UBND thì diện tích tính thuế nhà đất là diện tích đất ở ghi trên GCNQSDĐ được cấp lại.
Tổng cục Thuế trả lời để Cục Thuế được biết và thực hiện thu thuế nhà đất theo quy định hiện hành./.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1Thông tư 83-TC/TCT năm 1994 hướng dẫn Nghị định 94-CP 1994 thi hành Pháp lệnh về thuế nhà, đất do Bộ Tài chính ban hành
- 2Thông tư 60/2007/TT-BTC hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế và Nghị định 85/2007/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Quản lý thuế do Bộ Tài chính ban hành
- 3Công văn 4105/TCT- CS về diện tích tính thuế nhà đất do Tổng cục Thuế ban hành
Công văn số 3684/TCT-CS về việc diện tích tính thuế nhà đất do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 3684/TCT-CS
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 02/10/2008
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Phạm Duy Khương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 02/10/2008
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
