Tóm tắt Công văn số 3657/TCT-CS về việc hoàn thuế TNDN do tái đầu tư
Công văn số 3657/TCT-CS do Tổng cục Thuế ban hành hướng dẫn về chính sách hoàn thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đối với trường hợp tái đầu tư. Đây là một nội dung quan trọng liên quan đến quyền lợi thuế của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khi sử dụng lợi nhuận thu được để tiếp tục đầu tư vào các dự án tại Việt Nam.
- Đối tượng và điều kiện áp dụng hoàn thuế TNDN do tái đầu tư
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng lợi nhuận chia cho nhà đầu tư nước ngoài để tái đầu tư vào các dự án khuyến khích đầu tư hoặc dự án tại địa bàn khuyến khích đầu tư.
- Lợi nhuận dùng để tái đầu tư phải là lợi nhuận hợp pháp, đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế TNDN theo quy định của pháp luật Việt Nam.
- Dự án nhận vốn tái đầu tư phải đáp ứng các điều kiện về lĩnh vực, địa bàn ưu đãi đầu tư theo quy định tại thời điểm thực hiện tái đầu tư.
- Nguyên tắc xác định số thuế TNDN được hoàn
- Số thuế TNDN được hoàn trả được tính trên cơ sở tỷ lệ phần trăm số thuế TNDN thực tế đã nộp tương ứng với phần lợi nhuận được tái đầu tư.
- Mức hoàn thuế cụ thể phụ thuộc vào lĩnh vực, địa bàn và tính chất của dự án tái đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trước đây và các văn bản hướng dẫn chuyển tiếp.
- Thủ tục và hồ sơ đề nghị hoàn thuế
- Doanh nghiệp cần chuẩn bị hồ sơ chứng minh nguồn lợi nhuận tái đầu tư, bao gồm quyết định chia lợi nhuận, quyết định tái đầu tư của hội đồng quản trị hoặc chủ sở hữu doanh nghiệp.
- Văn bản xác nhận của cơ quan quản lý đầu tư về việc dự án đã được cấp phép hoặc đăng ký danh mục đầu tư, tiến độ góp vốn tái đầu tư thực tế.
- Tờ khai đề nghị hoàn thuế TNDN do tái đầu tư gửi đến cơ quan thuế quản lý trực tiếp để được thẩm định và ra quyết định hoàn thuế.
- Lưu ý về chính sách chuyển tiếp và áp dụng pháp luật
- Chính sách hoàn thuế TNDN do tái đầu tư chủ yếu áp dụng cho các dự án được cấp phép và thực hiện tái đầu tư trong thời kỳ Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam còn hiệu lực.
- Các doanh nghiệp cần đối chiếu kỹ lưỡng thời điểm phát sinh lợi nhuận, thời điểm thực hiện tái đầu tư thực tế để xác định đúng văn bản quy phạm pháp luật áp dụng, tránh các rủi ro pháp lý và tranh chấp với cơ quan thuế.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 3657/TCT-CS | Hà Nội, ngày 30 tháng 09 năm 2008 |
Kính gửi: Công ty cổ phần Scavi
Trả lời công văn số 115/SC/HCTQ/08 ngày 05/8/2008 của Công ty cổ phần Scavi khiếu nại về việc hoàn thuế TNDN do sử dụng lợi nhuận năm 2000, 2001 để tái đầu tư, Tổng cục thuế có ý kiến như sau:
Theo quy định tại Điểm 6 Mục I Phần thứ hai Thông tư số 13/2001/TT-BTC ngày 08/3/2001 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện một số quy định về thuế đối với các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam thì để nhận được số thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp cho số lợi nhuận tái đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài hoặc người được ủy quyền phải xuất trình đầy đủ các chứng từ với Cục thuế địa phương nơi đặt trụ sở điều hành chính của doanh nghiệp có số lợi nhuận được sử dụng để tái đầu tư; một trong những chứng từ theo quy định là Giấy phép đầu tư hoặc giấy phép điều chỉnh hoặc văn bản chấp thuận do cơ quan cấp giấy phép đầu tư cấp (bản sao có đóng dấu xác nhận của doanh nghiệp) có quy định rõ cho phép chủ đầu tư dùng lợi nhuận để tái đầu tư.
Căn cứ theo quy định trên, Tổng cục thuế đã có một số công văn trả lời về vấn đề này, cụ thể:
- Công văn số 5299/TCT-CS ngày 21/12/2007 gửi UBND thành phố Hồ Chí Minh đề nghị có ý kiến về việc số vốn tăng theo quy định Giấy phép số 26/GPĐC6-BKH-HCM được thực hiện từ việc sử dụng lợi nhuận của các năm 2000, 2001, 2002.
- Công văn số 526/TCT-CS ngày 18/1/2008 trả lời Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh báo cáo UBND thành phố Hồ Chí Minh xem xét, có ý kiến cụ thể về việc số vốn tăng theo quy định tại Giấy phép điều chỉnh số 26/GPĐC6-BKH-HCM ngày 06/4/2004 của Công ty được thực hiện từ việc sử dụng lợi nhuận của các năm 2000, 2001, 2002.
- Công văn số 1438/TCT-CS ngày 11/4/2008 trả lời Công ty trong đó đã khẳng định việc chưa đủ cơ sở để thực hiện hoàn thuế TNDN năm 2000, 2001 vì tại Giấy phép điều chỉnh số 26/GPĐC6-BKH-HCM chỉ quy định Công ty sử dụng lợi nhuận của năm 2002 để tái đầu tư.
Để có căn cứ xử lý dứt điểm việc xét hoàn thuế TNDN do tái đầu tư của Công ty, Tổng cục Thuế đề nghị Công ty liên hệ với UBND thành phố Hồ Chí Minh căn cứ vào hồ sơ đề nghị tăng vốn của Công ty có văn bản xác nhận việc nguồn vốn để tái đầu tư mở rộng sản xuất của Công ty đã được chấp thuận theo Giấy phép điều chỉnh số 26/GPĐC6-BKH-HCM ngày 06/4/2004 được sử dụng từ lợi nhuận thu được của các năm 2000, 2001, 2002.
Sau khi UBND thành phố Hồ Chí Minh có văn bản xác nhận vấn đề trên, đề nghị Công ty hoàn chỉnh đầy đủ hồ sơ, chứng từ theo quy định tại Thông tư số 13/2001/TT-BTC ngày 8/3/2001 của Bộ Tài chính và gửi đến Cục thuế địa phương để thực hiện thủ tục hoàn thuế TNDN của Công ty theo đúng quy định.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
Công văn số 3657/TCT-CS về việc hoàn thuế TNDN do tái đầu tư do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 3657/TCT-CS
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 30/09/2008
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Phạm Duy Khương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 30/09/2008
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
