Giới thiệu về Công văn số 3239/TCT-PCCS
Công văn số 3239/TCT-PCCS là văn bản nghiệp vụ do Tổng cục Thuế ban hành nhằm hướng dẫn, giải thích và xử lý các vướng mắc liên quan đến việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế. Đây là văn bản hướng dẫn quan trọng giúp thống nhất cách áp dụng pháp luật thuế giữa các cơ quan thuế địa phương và đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người nộp thuế.
Thông tin tổng quan về văn bản
- Tên văn bản: Công văn số 3239/TCT-PCCS của Tổng cục Thuế về xử phạt vi phạm về thuế.
- Cơ quan ban hành: Tổng cục Thuế.
- Lĩnh vực trọng tâm: Quản lý thuế, xử phạt vi phạm hành chính về thuế và hóa đơn.
Nội dung khái quát Phần mở đầu và Các điều khoản đầu (Điều 1 đến Điều 4)
Dựa trên danh mục cấu trúc được trích xuất, nội dung của phần mở đầu và các điều khoản đầu tiên (từ Điều 1 đến Điều 4) tập trung vào các nguyên tắc nền tảng và phạm vi áp dụng quy định xử phạt:
- Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng: Xác định rõ ràng các hành vi vi phạm hành chính về thuế, thủ tục xử phạt, thẩm quyền xử phạt và các biện pháp khắc phục hậu quả áp dụng đối với tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm.
- Nguyên tắc xử phạt vi phạm về thuế: Đảm bảo tính khách quan, công bằng và tuân thủ nghiêm ngặt theo quy định của Luật Quản lý thuế và Luật Xử lý vi phạm hành chính. Mọi hành vi vi phạm phải được phát hiện kịp thời và xử lý nhanh chóng, triệt để.
- Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng: Làm rõ cách thức áp dụng các tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng khi xác định khung hình phạt đối với người nộp thuế, nhằm đảm bảo tính nhân văn và răn đe của pháp luật.
- Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về thuế: Quy định cụ thể về thời hạn mà cơ quan thuế có quyền ra quyết định xử phạt kể từ ngày hành vi vi phạm được thực hiện hoặc phát hiện, quá thời hạn này thì không xử phạt nhưng vẫn có thể truy thu thuế.
Ý nghĩa thực tiễn của văn bản
Việc hướng dẫn chi tiết các điều khoản đầu tiên giúp các cơ quan thuế địa phương có sự đồng nhất trong quá trình thực thi công vụ, hạn chế tối đa việc áp dụng sai lệch quy định dẫn đến khiếu nại, khiếu kiện từ phía doanh nghiệp. Đồng thời, văn bản cũng giúp người nộp thuế tự ý thức được trách nhiệm và nghĩa vụ của mình để tránh các sai sót pháp lý không đáng có.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| TỔNG CỤC THUẾ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 3239/TCT-PCCS | Hà Nội, ngày 19 tháng 09 năm 2005 |
Kính gửi: Cục thuế tỉnh Bắc Giang.
Trả lời công văn số 416CT/TTr ngày 17/8/2005 của Cục thuế tỉnh Bắc Giang về xử phạt thuế, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
1. Tại Điểm 3, 4 Điều 80 Chương VIII Luật số 52-L/CTN ngày 22/11/1996 của Quốc hội về Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định: “3, Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật về cùng một vấn đề do cùng một cơ quan ban hành mà có quy định khác nhau, thì áp dụng quy định của văn bản được ban hành sau; Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra trước ngày văn bản có hiệu lực, thì áp dụng văn bản mới”.
Căn cứ vào quy định trên, những trường hợp chưa xử lý hành vi vi phạm về thuế thì thực hiện theo công văn số 8585/BTC-TCT, những trường hợp đã xử lý theo Điểm 1g và Điểm 1i Khoản 1 Mục IV Phần B Thông tư 41/2004/TT-BTC thì không xem xét lại.
2. Tại Điểm 1.1 Công văn 8585/BTC-TCT ngày 8/7/2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế hướng dẫn: “… Trường hợp này, cơ quan thuế truy thu đủ số thuế còn thiếu theo quy định và tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà xử phạt trong lĩnh vực kế toán theo quy định tại Nghị định số 185/2004/NĐ-CP ngày 4/11/2004 của Chính phủ hoặc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hóa đơn, chứng từ theo quy định tại Nghị định số 89/2002/NĐ-CP ngày 7/11/2002 của Chính phủ.
Tại Điều 21 Chương III Nghị định số 185/2004/NĐ-CP nêu trên quy định rõ “phân định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán: Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã, cấp huyện và cấp tỉnh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán thuộc địa phương. Cơ quan thanh tra Tài chính các cấp có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán thuộc mình quản lý. Trường hợp vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều người thì việc xử phạt vi phạm hành chính do người thụ lý đầu tiên thực hiện…”
Căn cứ vào quy định nêu trên, cơ quan thuế không có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán.
3. Tại Điểm 1 Điều 23 chương V Luật số 02/1997/QH9 ngày 10/5/1997 của Quốc hội về Luật thuế giá trị gia tăng quy định quyền và trách nhiệm của đối tượng nộp thuế; Tại Điểm 1 Điều 26 chương VI Luật số 09/2003/QH11 ngày 17/6/2003 của Quốc hội về Luật thuế thu nhập doanh nghiệp quy định quyền và trách nhiệm của đối tượng nộp thuế trong việc khiếu nại về thuế: “Đơn khiếu nại được gửi đến cơ quan thuế trực tiếp quản lý thu thuế trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo hoặc quyết định xử lý của cán bộ thuế, cơ quan thuế”.
Căn cứ vào quy định nêu trên, cơ quan thuế khi phát hiện cơ sở kinh doanh có hành vi ghi sổ kế toán không đúng quy định làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn hoặc được miễn, giảm thì cơ quan thuế nhắc nhở cơ sở kinh doanh tự điều chỉnh dưới các hình thức thông báo hoặc quyết định truy thu thuế và cơ sở kinh doanh thấy việc xử lý của cơ quan thuế chưa thỏa đáng thì có quyền khiếu nại các văn bản trên theo quy định.
4. 1. Tại Điểm 1 Điều 9 Chương II Nghị định số 89/2002/NĐ-CP ngày 7/11/2002 của Chính phủ quy định về việc in, phát hành, quản lý, sử dụng hóa đơn quy định: “Đối với tổ chức, cá nhân bán hàng hóa, dịch vụ: Khi bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ phải lập, giao hóa đơn cho khách hàng theo quy định của Nghị định này…”
Tại Điểm 1 Mục II Phần C Thông tư số 120/2003/TT-BTC ngày 12/12/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 158/2003/NĐ-CP ngày 10/12/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế giá trị gia tăng và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng hướng dẫn: “Thời điểm để xác định doanh thu tính thuế GTGT phát sinh là thời điểm cơ sở kinh doanh đã chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho người mua, không phân biệt người mua đã trả tiền hay chưa trả tiền”.
Căn cứ vào hướng dẫn nêu trên thì Công ty mua nguyên vật liệu phục vụ công trình năm 2003 nhưng đến năm 2004 Công ty bán ppmới xuất hoá đơn cho số nguyên vật liệu này thì Công ty bán sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính về việc không kê khai thuế hoặc chậm kê khai thuế do lập hóa đơn chậm so với thời hạn quy định. Công ty mua không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với số hóa đơn này mà tính vào chi phí hợp lý để tính thuế thu nhập doanh nghiệp.
Tổng cục Thuế thông báo để Cục thuế biết và thực hiện.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1Công văn 8585/TC/TCT của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế
- 2Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật 1996
- 3Luật Thuế giá trị gia tăng 1997
- 4Nghị định 89/2002/NĐ-CP quy định về việc in, phát hành, sử dụng, quản lý hoá đơn
- 5Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp 2003
- 6Thông tư 120/2003/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 158/2003/NĐ-CP thi hành Luật thuế giá trị gia tăng và Luật thuế giá trị gia tăng sửa đổi do Bộ Tài chính ban hành
- 7Thông tư 41/2004/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 100/2004/NĐ-CP về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế do Bộ Tài chính ban hành
- 8Nghị định 185/2004/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán
Công văn số 3239/TCT-PCCS của Tổng cục Thuế về xử phạt vi phạm về thuế
- Số hiệu: 3239/TCT-PCCS
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 19/09/2005
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Phạm Duy Khương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 19/09/2005
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
