Giới thiệu về Công văn số 284/TCT-CS
Công văn số 284/TCT-CS do Tổng cục Thuế ban hành là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng liên quan đến điều kiện chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt (thanh toán qua ngân hàng). Đây là cơ sở pháp lý để doanh nghiệp thực hiện đúng quy định khi kê khai, khấu trừ thuế giá trị gia tăng (GTGT) đầu vào và tính các khoản chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN).
Các nguyên tắc cốt lõi về điều kiện thanh toán qua ngân hàng
Để đảm bảo các khoản chi mua hàng hóa, dịch vụ từ 20 triệu đồng trở lên được khấu trừ thuế GTGT và tính vào chi phí hợp lý, doanh nghiệp phải đáp ứng các điều kiện nghiêm ngặt về chứng từ thanh toán:
- Chứng từ chuyển tiền hợp lệ: Phải có chứng từ chứng minh việc chuyển tiền từ tài khoản của bên mua sang tài khoản của bên bán. Các tài khoản này phải là tài khoản mở tại các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán hợp pháp theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
- Đăng ký tài khoản giao dịch: Tài khoản thanh toán của cả bên mua và bên bán phải được đăng ký hoặc thông báo với cơ quan thuế quản lý trực tiếp theo đúng quy định pháp luật về quản lý thuế. Việc sử dụng tài khoản chưa đăng ký có thể dẫn đến nguy cơ bị cơ quan thuế từ chối khấu trừ hoặc loại chi phí khi quyết toán.
Hướng dẫn xử lý các phương thức thanh toán đặc thù
Công văn số 284/TCT-CS làm rõ cách thức áp dụng quy định đối với các hình thức thanh toán phức tạp phát sinh trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp:
- Thanh toán bù trừ công nợ: Trường hợp doanh nghiệp thực hiện bù trừ công nợ giữa hàng hóa, dịch vụ mua vào với hàng hóa, dịch vụ bán ra, hoặc bù trừ công nợ thông qua bên thứ ba, phương thức này phải được quy định cụ thể trong hợp đồng mua bán. Doanh nghiệp bắt buộc phải lập biên bản đối chiếu công nợ có xác nhận đầy đủ của các bên và chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với phần giá trị chênh lệch sau khi bù trừ (nếu có).
- Thanh toán ủy quyền cho bên thứ ba: Trường hợp bên mua thanh toán cho bên thứ ba theo chỉ định bằng văn bản của bên bán, hoặc bên thứ ba thanh toán thay cho bên mua theo thỏa thuận ủy quyền, các nội dung ủy quyền này phải được thể hiện rõ ràng trong hợp đồng chính thức hoặc phụ lục hợp đồng kèm theo.
- Thanh toán bằng thẻ tín dụng: Đối với các khoản chi tiêu bằng thẻ tín dụng, thẻ phải mang tên của tổ chức, doanh nghiệp. Trường hợp sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của người lao động để thanh toán, doanh nghiệp phải có quy chế tài chính nội bộ cho phép hình thức này, có quyết định ủy quyền cụ thể và chứng từ chuyển khoản hoàn trả tiền từ tài khoản của doanh nghiệp sang tài khoản cá nhân của người lao động.
Hệ quả pháp lý và lưu ý quan trọng đối với doanh nghiệp
Việc không tuân thủ đúng các hướng dẫn về thanh toán qua ngân hàng sẽ dẫn đến những ảnh hưởng trực tiếp đến nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp:
- Rủi ro bị loại thuế GTGT đầu vào: Các hóa đơn có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên nếu thanh toán bằng tiền mặt hoặc có chứng từ thanh toán qua ngân hàng không hợp lệ sẽ không được kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào.
- Ảnh hưởng đến chi phí được trừ khi tính thuế TNDN: Cơ quan thuế sẽ loại ra khỏi chi phí hợp lý đối với các khoản chi không đáp ứng điều kiện thanh toán không dùng tiền mặt, làm tăng thu nhập chịu thuế và phát sinh thêm thuế TNDN phải nộp.
- Trách nhiệm hoàn thiện hồ sơ: Doanh nghiệp cần chủ động rà soát hệ thống chứng từ, lưu trữ đầy đủ hợp đồng, hóa đơn, chứng từ chuyển tiền, biên bản đối chiếu công nợ và các văn bản ủy quyền liên quan để sẵn sàng xuất trình khi cơ quan thuế thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 284/TCT-CS | Hà Nội, ngày 22 tháng 1 năm 2009 |
Kính gửi: Cục thuế tỉnh Cà Mau
Trả lời công văn số 946/CT-TTHT ngày 01/08/2008 của Cục thuế tỉnh Cà Mau đề nghị hướng dẫn về thanh toán bù trừ tiền hàng xuất khẩu, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Tại điểm 1.2.d.3, mục III, phần B Thông tư số 32/2007/TT-BTC ngày 09/4/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 158/2003/NĐ-CP ngày 10/12/2003, Nghị định số 148/2004/NĐ-CP ngày 23/7/2004 và Nghị định số 156/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế GTGT và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT hướng dẫn: "- Hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu phải thanh toán qua ngân hàng.
Thanh toán qua ngân hàng là việc chuyển tiền từ tài khoản của bên nhập khẩu sang tài khoản mang tên bên xuất khẩu mở tại ngân hàng theo các hình thức thanh toán phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng và quy định của ngân hàng. Chứng từ thanh toán tiền là giấy báo Có của ngân hàng bên xuất khẩu về số tiền đã nhận được từ tài khoản của ngân hàng bên nhập khẩu, trường hợp tiền hàng xuất khẩu được thanh toán một phần vào tài khoản mang tên cơ sở kinh doanh xuất khẩu, một phần vào tài khoản của cá nhân là người đại diện hợp pháp hoặc đại diện theo uỷ quyền của cơ sở kinh doanh thì doanh nghiệp xuất khẩu chỉ được khấu trừ thuế GTGT đầu vào của phần hàng xuất khẩu tương ứng với phần doanh thu được phía nước ngoài thanh toán vào tài khoản của cơ sở kinh doanh. Trường hợp thanh toán chậm trả, phải có thỏa thuận ghi trong hợp đồng xuất khẩu, đến thời hạn thanh toán cơ sở kinh doanh phải có chứng từ thanh toán qua ngân hàng. Trường hợp uỷ thác xuất khẩu thì bên nhận uỷ thác xuất khẩu phải thanh toán với nước ngoài qua ngân hàng.
- Các trường hợp thanh toán dưới đây cũng được coi là thanh toán qua ngân hàng:
+ Trường hợp hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu được thanh toán cấn trừ vào khoản tiền vay nợ nước ngoài cơ sở kinh doanh phải có đủ điều kiện, thủ tục, hồ sơ như sau:
* Hợp đồng vay nợ (đối với những khoản vay tài chính có thời hạn dưới 01 năm); hoặc giấy xác nhận đăng ký khoản vay của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (đối với những khoản vay trên 01 năm).
* Chứng từ chuyển tiền của phía nước ngoài vào Việt Nam qua ngân hàng.
Phương thức thanh toán hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu cấn trừ vào khoản nợ vay nước ngoài phải được quy định trong hợp đồng xuất khẩu.
* Bản xác nhận của phía nước ngoài về cấn trừ khoản nợ vay.
* Trường hợp sau khi cấn trừ giá trị hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu vào khoản nợ vay của nước ngoài có chênh lệch, thì số tiền chênh lệch phải thực hiện thanh toán qua ngân hàng. Chứng từ thanh toán qua ngân hàng theo hướng dẫn tại điểm này".
Căn cứ vào hướng dẫn nêu trên, trường hợp Công ty cổ phần thuỷ sản Cà Mau (Công ty Seaprimexco Việt Nam) ký hợp đồng xuất khẩu hàng hoá cho Công ty con Seaprimexco U.S.A INC; một phần tiền thanh toán của lô hàng xuất khẩu được Công ty Seaprimexco Việt Nam dùng để góp vốn với Công ty Seaprimexco U.S.A INC; phần tiền thanh toán còn lại của lô hàng xuất khẩu được bên nhập khẩu thực hiện thanh toán đúng hạn qua ngân hàng thì Công ty Seaprimexco Việt Nam chỉ được khấu trừ thuế GTGT đầu vào tương ứng với số tiền mà bên nhập khẩu thanh toán qua ngân hàng theo quy định.
Tổng cục Thuế trả lời để Cục thuế được biết./.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
Công văn số 284/TCT-CS về việc thanh toán qua ngân hàng do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 284/TCT-CS
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 22/01/2009
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Phạm Duy Khương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 22/01/2009
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
