Tổng quan về Công văn số 2824/TCT-CS về chứng từ thanh toán qua ngân hàng
Công văn số 2824/TCT-CS do Tổng cục Thuế ban hành là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng dành cho các cục thuế địa phương và doanh nghiệp nhằm làm rõ các điều kiện về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt. Đây là cơ sở pháp lý để xác định một giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ có đủ điều kiện được khấu trừ thuế giá trị gia tăng (GTGT) đầu vào và được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) hay không.
Điều kiện chứng từ thanh toán qua ngân hàng hợp lệ
Theo hướng dẫn của Tổng cục Thuế, để chứng từ thanh toán qua ngân hàng được coi là hợp lệ và làm căn cứ khấu trừ thuế GTGT cũng như tính chi phí hợp lý, doanh nghiệp cần đáp ứng các tiêu chuẩn sau:
- Phải có chứng từ chứng minh việc chuyển tiền từ tài khoản của bên mua sang tài khoản của bên bán. Cả hai tài khoản này phải là tài khoản mở tại các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán theo đúng quy định của pháp luật.
- Các tài khoản ngân hàng dùng trong giao dịch phải được đăng ký hoặc thông báo với cơ quan thuế theo đúng thời hạn và quy định pháp luật về quản lý thuế.
- Thông tin trên chứng từ chuyển tiền phải trùng khớp với thông tin trên hóa đơn và hợp đồng thương mại đã ký kết giữa hai bên, bao gồm tên đơn vị thụ hưởng, số tài khoản và nội dung thanh toán.
Các trường hợp không được thừa nhận là thanh toán qua ngân hàng
Tổng cục Thuế nhấn mạnh một số trường hợp sai sót phổ biến dẫn đến việc chứng từ thanh toán không được chấp nhận, cụ thể:
- Nộp tiền mặt vào tài khoản bên bán: Bên mua mang tiền mặt đến ngân hàng để nộp trực tiếp vào tài khoản của bên bán. Giao dịch này không được coi là thanh toán qua ngân hàng vì không phát sinh dòng tiền chuyển từ tài khoản của bên mua.
- Sử dụng tài khoản không đăng ký: Việc thanh toán được thực hiện qua các tài khoản ngân hàng chưa được thông báo hoặc đăng ký với cơ quan thuế quản lý trực tiếp của doanh nghiệp.
- Thanh toán qua tài khoản cá nhân: Sử dụng tài khoản cá nhân của giám đốc, nhân viên hoặc bên thứ ba để thanh toán cho các hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp (trừ các trường hợp đặc thù được pháp luật cho phép và có văn bản ủy quyền hợp lệ).
Hướng dẫn xử lý đối với các hình thức thanh toán đặc thù
Công văn cũng đưa ra hướng dẫn cụ thể đối với các phương thức thanh toán bù trừ hoặc thanh toán thông qua bên thứ ba:
- Thanh toán bù trừ công nợ: Việc bù trừ công nợ (như bù trừ giữa mua và bán hàng hóa, dịch vụ, hoặc bù trừ giao dịch vay mượn) phải được quy định rõ ràng trong hợp đồng mua bán hoặc văn bản thỏa thuận giữa các bên. Sau khi bù trừ, nếu phần giá trị còn lại thanh toán bằng tiền có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên thì bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng.
- Thanh toán ủy quyền qua bên thứ ba: Trường hợp doanh nghiệp ủy quyền cho bên thứ ba thanh toán hoặc nhận thanh toán thì điều khoản ủy quyền này phải được thể hiện rõ trong hợp đồng kinh tế. Đồng thời, chứng từ thanh toán qua ngân hàng phải thể hiện rõ dòng tiền đi từ tài khoản của bên ủy quyền sang bên nhận ủy quyền và đến tài khoản của bên bán.
Khuyến nghị dành cho doanh nghiệp để tránh rủi ro pháp lý
Để đảm bảo quyền lợi về khấu trừ thuế và tối ưu hóa chi phí hợp lý, doanh nghiệp cần chủ động thực hiện các biện pháp sau:
- Thường xuyên kiểm tra, cập nhật và thực hiện đầy đủ thủ tục khai báo thông tin tài khoản ngân hàng của doanh nghiệp mình với cơ quan thuế.
- Trước khi thực hiện chuyển khoản, cần yêu cầu đối tác cung cấp xác nhận bằng văn bản về thông tin tài khoản ngân hàng hợp pháp của họ để tránh chuyển nhầm hoặc chuyển vào tài khoản chưa đăng ký thuế.
- Lưu trữ hồ sơ thanh toán một cách khoa học, bao gồm: hợp đồng mua bán, hóa đơn GTGT, lệnh chi, ủy nhiệm chi có xác nhận của ngân hàng và các biên bản đối chiếu công nợ (nếu có) để sẵn sàng xuất trình khi cơ quan thuế thực hiện thanh tra, kiểm tra.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH TỔNG CỤC THUẾ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 2824/TCT-CS V/v: Chứng từ thanh toán qua ngân hàng | Hà Nội, ngày 20 tháng 07 năm 2007 |
Kính gửi: Cục thuế thành phố Hà Nội
Trả lời công văn số 6049/CT-DT ngày 24/05/2007 của Cục thuế thành phố Hà Nội đề nghị hướng dẫn vướng mắc về chứng từ thanh toán qua ngân hàng, Tổng cục thuế có ý kiến như sau:
Tại tiết d.3, điểm 1, mục III, Phần B Thông tư số 120/2003/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 12/12/2003 hướng dẫn thi hành Nghị định số 158/2003/NĐ-CP ngày 10/12/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế GTGT và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT quy định: “Thanh toán qua ngân hàng là việc chuyển tiền từ ngân hàng của bên nhập khẩu qua ngân hàng của bên xuất khẩu để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ cho bên xuất khẩu theo các hình thức thanh toán phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng và quy định của ngân hàng. Chứng từ thanh toán là giấy báo Có của ngân hàng bên xuất khẩu về số tiền đã nhận được từ tài khoản của ngân hàng bên nhập khẩu” và tại công văn số 14572/BTC-TCT của Bộ Tài Chính ngày 23/11/2006 hướng dẫn đối với trường hợp chứng từ báo Có của Ngân hàng bên xuất khẩu về số tiền nhận được từ tài khoản vãng lai là từ tài khoản tiền gửi vãng lai của cá nhân (người Việt Nam hoặc người nước ngoài) thì không được chấp nhận là chứng từ thanh toán của Công ty mua hàng để doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa làm thủ tục khấu trừ, hoàn thuế GTGT.
Theo các quy định trên, trường hợp chứng từ thanh toán là giấy báo Có của Ngân hàng bên Công ty TNHH may nhân đạo Trí tuệ về số tiền nhận được từ tài khoản vãng lai của cá nhân (là Ông Huỳnh Luận và Ông Nguyễn Danh Quyền) thì không được chấp nhận đó là chứng từ thanh toán với Công ty TNHH may nhân đạo Trí tuệ để làm thủ tục khấu trừ, hoàn thuế GTGT.
Tổng cục Thuế trả lời để Cục thuế thành phố Hà Nội biết và hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện./.
|
Nơi nhận - Như trên; - Công ty TNHH may nhân đạo Trí tuệ; - Vụ Pháp chế; - Lưu: VT, PC, HT, CS (3b). | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG
Phạm Duy Khương |
Công văn số 2824/TCT-CS về chứng từ thanh toán qua ngân hàng do Tổng cục Thuế ban hành.
- Số hiệu: 2824/TCT-CS
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 20/07/2007
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Phạm Duy Khương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 20/07/2007
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
