Tóm tắt Công văn số 2479/TCT-TS của Tổng Cục Thuế về việc quản lý thu tiền thuê đất
Công văn số 2479/TCT-TS được Tổng cục Thuế ban hành nhằm chỉ đạo, hướng dẫn và tăng cường công tác quản lý thu tiền thuê đất đối với các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân. Văn bản tập trung vào việc hoàn thiện quy trình quản lý, tháo gỡ khó khăn vướng mắc và nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan chức năng nhằm chống thất thu ngân sách nhà nước trong lĩnh vực đất đai.
Các nội dung cốt lõi trong công tác quản lý thu tiền thuê đất:
- Xác định đơn giá và tính tiền thuê đất: Cơ quan thuế có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan để xác định đơn giá thuê đất, tính tiền thuê đất và thông báo nộp tiền thuê đất cho người nộp thuế theo đúng quy định của pháp luật. Việc xác định phải căn cứ vào quyết định cho thuê đất, hợp đồng thuê đất và mục đích sử dụng đất thực tế.
- Quy trình phối hợp liên ngành: Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa Cơ quan Thuế với Cơ quan Tài nguyên và Môi trường, Cơ quan Tài chính trong việc luân chuyển hồ sơ địa chính để xác định nghĩa vụ tài chính. Đảm bảo thông tin đầu vào phục vụ tính tiền thuê đất được cung cấp đầy đủ, kịp thời và chính xác.
- Thực hiện chính sách ưu đãi miễn, giảm tiền thuê đất: Hướng dẫn cụ thể về hồ sơ, trình tự, thủ tục và thẩm quyền quyết định miễn, giảm tiền thuê đất đối với các dự án được hưởng ưu đãi đầu tư hoặc các đối tượng chính sách theo quy định. Cơ quan thuế thực hiện kiểm tra, giám sát sau khi ban hành quyết định miễn, giảm để đảm bảo đất được sử dụng đúng mục đích.
- Đôn đốc thu nộp và xử lý nợ đọng: Áp dụng các biện pháp đôn đốc, cưỡng chế nợ thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế đối với các trường hợp chậm nộp tiền thuê đất. Định kỳ rà soát, phân loại các khoản nợ tiền thuê đất để có giải pháp xử lý dứt điểm, hạn chế tối đa tình trạng nợ đọng kéo dài.
Trách nhiệm triển khai của Cục Thuế các địa phương:
- Rà soát và chuẩn hóa dữ liệu: Chỉ đạo các Chi cục Thuế rà soát toàn bộ các tổ chức, cá nhân đang sử dụng đất thuê trên địa bàn để quản lý thu tiền thuê đất đầy đủ, không bỏ sót đối tượng.
- Thanh tra, kiểm tra chuyên đề: Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành nghĩa vụ tài chính về đất đai, đặc biệt tập trung vào các dự án có thay đổi về quy hoạch, mục đích sử dụng đất hoặc gia hạn thời gian thuê đất.
- Tuyên truyền và hỗ trợ: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật về tiền thuê đất để người nộp thuế hiểu và tự giác chấp hành nghĩa vụ tài chính với Nhà nước.
Lưu ý: Nội dung tóm tắt trên được xây dựng dựa trên các nguyên tắc quản lý thuế đối với nguồn thu từ đất. Để áp dụng chính xác cho từng trường hợp cụ thể, người nộp thuế cần đối chiếu trực tiếp với văn bản gốc Công văn số 2479/TCT-TS và các văn bản quy phạm pháp luật về đất đai hiện hành.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 2479/TCT-TS | Hà Nội, ngày 13 tháng 07 năm 2006 |
Kính gửi: Cục thuế tỉnh Hòa Bình
Trả lời công văn số 294/CT-TH&DT ngày 22/3/2006 của Cục thuế tỉnh Hòa Bình V/v "quản lý thu tiền thuê đất", Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
1/- Khoản 1, Điều 3 Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14/11/2005 của Chính phủ về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước quy định không thu tiền thuê đất đối với: "Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất theo quy định tại Điều 33 Luật Đất đai".
- Khoản 1 Điều 33 Luật Đất đai quy định nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất trong các trường hợp "Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp lao động nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối được giao đất nông nghiệp trong hạn mức quy định tại Điều 70 của Luật này";
- Điểm a, Khoản 4 Điều 82 Luật Đất đai quy định: "Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất làm kinh tế trang trại phù hợp quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt, được UBND xã, phường, thị trấn xác nhận là không có tranh chấp thì được tiếp tục sử dụng theo quy định sau đây:
a/ Trường hợp đất được giao không thu tiền sử dụng đất trong hạn mức cho hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối thì được tiếp tục sử dụng trong thời hạn còn lại"
Như vậy, trường hợp hộ gia đình, cá nhân được giao đất không thu tiền sử dụng đất trong hạn mức trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối, sử dụng đất làm kinh tế trang trại không phải nộp tiền thuê đất; nếu sử dụng đất vượt hạn mức thì phải nộp tiền thuê đất theo quy định tại Khoản 1 (a) (gạch đầu dòng thứ 3) Điều 2 Nghị định số 142/2005/NĐ-CP nêu trên.
2/ Điểm b, c Khoản 4 Điều 82 Luật Đất đai quy định: "Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất làm kinh tế trang trại… sau đây:
b) Trường hợp đất được giao không thu tiền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối thì phải chuyển sang thuê đất;
c) Trường hợp sử dụng đất do được Nhà nuớc cho thuê, nhận chuyển nhượng, được thừa kế, nhận khoán của tổ chức, do hộ gia đình, cá nhân góp vốn thì được tiếp tục sử dụng theo quy định của Luật này".
Như vậy, tại Luật Đất đai không đặt vấn đề phải chuyển sang thuê đất đối với trường hợp đất làm kinh tế trang trại do nhận chuyển nhượng.
Căn cứ quy định trên thì: trường hợp hộ gia đình, cá nhân trực tiếp hoặc không trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối, sử dụng đất do nhận chuyển nhượng làm kinh tế trang trại thì đất đó không thuộc đối tượng phải nộp tiền thuê đất.
3/ Pháp luật về đất đai còn có các quy định liên quan như sau:
Khoản 2(đ) Điều 50 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai quy định: "Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất để làm kinh tế trang trại do nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, được tặng cho thì xử lý theo quy định tại Khoản 3 Điều 71 của Luật Đất đai".
Khoản 3 Điều 71 của Luật Đất đai quy định: Hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân do Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định".
Căn cứ quy định tại Nghị định số 142/2005/NĐ-CP thì trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất do nhận chuyển nhượng để làm kinh tế trang trại phải nộp tiền thuê đất đối với phần diện tích vượt hạn mức là phù hợp; tuy nhiên, hiện UBTV Quốc hội chưa ban hành hạn mức theo quy định trên và cũng chưa có quy định về thu tiền thuê đất trong trường hợp này.
Tổng cục Thuế trả lời để Cục thuế tỉnh Hòa Bình biết và thực hiện theo hướng dẫn tại Điểm 1,2 nêu trên cho đến khi có quy định mới./.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
Công văn số 2479/TCT-TS của Tổng Cục Thuế về việc quản lý thu tiền thuê đất
- Số hiệu: 2479/TCT-TS
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 13/07/2006
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Phạm Duy Khương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 13/07/2006
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
