Công văn số 2179/TCT-CS do Tổng cục Thuế ban hành là văn bản hướng dẫn quan trọng về điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng (GTGT) và tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đối với các giao dịch thanh toán qua ngân hàng. Văn bản này giải quyết các vướng mắc thực tế của doanh nghiệp liên quan đến tính hợp lệ của chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.
Nội dung trọng tâm của Công văn số 2179/TCT-CSCông văn tập trung làm rõ các nguyên tắc và điều kiện áp dụng đối với chứng từ thanh toán qua ngân hàng của doanh nghiệp mua hàng hóa, dịch vụ như sau:
- Điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào: Doanh nghiệp mua hàng hóa, dịch vụ có hóa đơn từ 20 triệu đồng trở lên (đã bao gồm thuế GTGT) phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt để được khấu trừ thuế GTGT đầu vào theo quy định.
- Tính hợp lệ của tài khoản ngân hàng bên bán: Trường hợp bên mua thanh toán từ tài khoản của mình sang tài khoản của bên bán mở tại các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán hợp pháp, khoản thanh toán này được coi là hợp lệ để khấu trừ thuế GTGT và tính chi phí được trừ cho bên mua.
- Trách nhiệm đăng ký tài khoản của bên bán: Việc bên bán chưa thực hiện đăng ký hoặc thông báo thông tin tài khoản ngân hàng với cơ quan thuế (theo Mẫu số 08-MST hoặc quy định pháp luật về đăng ký doanh nghiệp) là hành vi vi phạm của bên bán và sẽ bị xử lý theo quy định về quản lý thuế. Hành vi này không làm ảnh hưởng đến quyền lợi khấu trừ thuế GTGT và ghi nhận chi phí được trừ của bên mua, miễn là bên mua đã thực hiện chuyển khoản đúng quy định vào tài khoản của bên bán.
- Yêu cầu đối với chứng từ thanh toán: Chứng từ thanh toán qua ngân hàng phải thể hiện rõ việc chuyển tiền từ tài khoản của bên mua sang tài khoản của bên bán. Các thông tin trên chứng từ phải trùng khớp với thông tin trên hợp đồng mua bán hoặc hóa đơn tài chính.
Công văn số 2179/TCT-CS mang lại sự rõ ràng và bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các doanh nghiệp mua hàng trong các giao dịch thương mại:
- Giảm thiểu rủi ro cho bên mua: Doanh nghiệp mua hàng không bị liên đới chịu phạt hoặc bị từ chối khấu trừ thuế do lỗi hành chính (không đăng ký tài khoản) từ phía nhà cung cấp.
- Khuyến khích thanh toán không dùng tiền mặt: Thúc đẩy tính minh bạch trong các giao dịch kinh doanh thông qua hệ thống ngân hàng, hỗ trợ công tác quản lý thuế hiệu quả hơn.
- Khuyến nghị cho doanh nghiệp: Dù được bảo vệ quyền lợi, doanh nghiệp mua hàng vẫn nên chủ động yêu cầu đối tác cung cấp thông tin tài khoản hợp pháp và kiểm tra tính xác thực của tài khoản trước khi thực hiện giao dịch để tránh các tranh chấp pháp lý không đáng có.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 2179/TCT-CS | Hà Nội, ngày 09 tháng 6 năm 2008 |
Kính gửi: Cục thuế tỉnh Hà Tây
Trả lời công văn số 556/CT-THNVDT ngày 08/05/2008 của Cục thuế tỉnh Hà Tây đề nghị hướng dẫn về thanh toán qua ngân hàng, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Tại điểm 1.2.d.3, mục III, phần B Thông tư số 32/2007/TT-BTC ngày 09/4/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 158/2003/NĐ-NP ngày 10/12/2003, Nghị định số 148/2004/NĐ-CP ngày 23/7/2004 và Nghị định số 156/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế GTGT và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT hướng dẫn: “Hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu phải thanh toán qua ngân hàng theo hướng dẫn sau đây:
- Hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu phải thanh toán qua ngân hàng.
Thanh toán qua ngân hàng là việc chuyển tiền từ tài khoản của bên nhập khẩu sang tài khoản mang tên bên xuất khẩu mở tại ngân hàng theo các hình thức thanh toán phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng và quy định của ngân hàng. Chứng từ thanh toán tiền là giấy báo Có của ngân hàng bên xuất khẩu về số tiền đã nhận được từ tài khoản của ngân hàng bên nhập khẩu.
Trường hợp phía nước ngoài yêu cầu bên thứ 3 là tổ chức ở Việt Nam thanh toán bù trừ công nợ với phía nước ngoài bằng thực hiện thanh toán qua ngân hàng số tiền phía nước ngoài phải thanh toán cho bên xuất khẩu và việc yêu cầu thanh toán bù trừ công nợ nêu trên có quy định trong hợp đồng xuất khẩu (hoặc phụ lục hợp đồng nếu có) và có chứng từ thanh toán là giấy báo Có của ngân hàng bên xuất khẩu về số tiền đã nhận được từ tài khoản bên thứ 3, đồng thời bên xuất khẩu phải xuất trình bản đối chiếu công nợ có xác nhận của bên nước ngoài và bên thứ 3”.
Công ty Phú Vĩnh Hưng ký hợp đồng với Thái Bình Import-Export..,Ltd tại Cu Ba xuất khẩu hàng hoá và Công ty đã thực hiện xuất khẩu hàng hoá có xác nhận thực xuất của cơ quan hải quan, có hoá đơn GTGT. Trong điều khoản thanh toán có ghi: bên Thái Bình Import-Export.,Ltd tại Cu Ba yêu cầu bên thứ ba là Công ty TNHH Thái Bình tại Việt Nam thanh toán cho Công ty Phú Vĩnh Hưng tiền hàng xuất khẩu qua ngân hàng và có chứng từ thanh toán là giấy báo Có của ngân hàng bên Công ty Phú Vĩnh Hưng về số tiền đã nhận được từ tài khoản của Công ty Thái Bình. Đồng thời Công ty Phú Vĩnh Hưng phải xuất trình bản đối chiếu công nợ giữa hai bên Thái Bình Import-Export.,Ltd tại Cu Ba và Công ty TNHH Thái Bình tại Việt Nam và có xác nhận của hai công ty thì việc thanh toán này được chấp nhận là thanh toán qua ngân hàng theo quy định trên.
Tổng cục Thuế trả lời để Cục thuế tỉnh Hà Tây được biết./.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1Nghị định 156/2005/NĐ-CP sửa đổi Nghị định Hướng dẫn Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế giá trị gia tăng
- 2Thông tư 32/2007/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 158/2003/NĐ-CP, Nghị định 148/2004/NĐ-CP và Nghị định 156/2005/NĐ-CP thi hành Luật thuế giá trị gia tăng và Luật thuế giá trị gia tăng sửa đổi do Bộ Tài chính ban hành
- 3Nghị định 148/2004/NĐ-CP sửa đổi Khoản 1 Điều 7 Nghị định 158/2003/NĐ-CP Hướng dẫn Luật Thuế giá trị gia tăng và Luật Thuế giá trị gia tăng sửa đổi
Công văn số 2179/TCT-CS về việc thanh toán qua ngân hàng do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 2179/TCT-CS
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 09/06/2008
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Phạm Duy Khương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 09/06/2008
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
