Giới thiệu về Công văn số 2178/TCT-CS
Công văn số 2178/TCT-CS do Tổng cục Thuế ban hành là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng gửi đến các Cục Thuế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nhằm giải quyết các vướng mắc liên quan đến điều kiện thanh toán qua ngân hàng. Đây là cơ sở pháp lý giúp doanh nghiệp thực hiện đúng các quy định về khấu trừ thuế giá trị gia tăng (GTGT) đầu vào và xác định chi phí được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đối với các giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ.
Các nội dung trọng tâm về thanh toán qua ngân hàng
Văn bản tập trung làm rõ các nguyên tắc, điều kiện và các trường hợp cụ thể được thừa nhận là thanh toán qua ngân hàng hợp lệ để được hưởng các ưu đãi về thuế, bao gồm:
- Nguyên tắc chung về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt: Các giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên (đã bao gồm thuế GTGT) bắt buộc phải có chứng từ thanh toán qua ngân hàng. Việc thanh toán phải được thực hiện từ tài khoản của bên mua sang tài khoản của bên bán mở tại các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán hợp pháp.
- Các hình thức thanh toán được coi là thanh toán qua ngân hàng: Công văn hướng dẫn cụ thể các trường hợp thanh toán bù trừ công nợ, thanh toán ủy quyền qua bên thứ ba hoặc thanh toán bằng thẻ tín dụng của cá nhân được ủy quyền. Các hình thức này chỉ được chấp nhận khi có đầy đủ hợp đồng, văn bản thỏa thuận, biên bản đối chiếu công nợ và chứng từ chuyển tiền qua ngân hàng theo đúng quy định của pháp luật.
- Yêu cầu về tài khoản ngân hàng: Tài khoản ngân hàng của bên mua và bên bán dùng trong giao dịch phải được đăng ký hoặc thông báo với cơ quan thuế quản lý trực tiếp theo quy định về đăng ký thuế. Các giao dịch chuyển tiền từ tài khoản không đăng ký có thể bị từ chối khấu trừ hoặc loại trừ khỏi chi phí hợp lý.
- Xử lý các trường hợp đặc thù: Hướng dẫn cách thức xử lý đối với các trường hợp thanh toán nhiều lần cho một hóa đơn, thanh toán gộp nhiều hóa đơn trong cùng một ngày, hoặc các trường hợp bất khả kháng dẫn đến việc không thể thực hiện thanh toán qua ngân hàng theo phương thức thông thường.
Ý nghĩa và tác động đối với doanh nghiệp
Công văn số 2178/TCT-CS mang lại nhiều giá trị thực tiễn trong quá trình vận hành và quản lý tài chính của doanh nghiệp:
- Hạn chế rủi ro pháp lý về thuế: Giúp doanh nghiệp chủ động rà soát, hoàn thiện hệ thống chứng từ thanh toán, tránh nguy cơ bị cơ quan thuế xuất toán chi phí hoặc từ chối hoàn thuế GTGT do sai sót trong phương thức thanh toán.
- Minh bạch hóa giao dịch tài chính: Thúc đẩy việc áp dụng các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh và minh bạch theo định hướng của Chính phủ.
- Chuẩn hóa quy trình kế toán: Đòi hỏi bộ phận kế toán của doanh nghiệp phải kiểm soát chặt chẽ các điều khoản thanh toán trong hợp đồng kinh tế và kiểm tra tính hợp lệ của tài khoản ngân hàng của đối tác trước khi thực hiện giao dịch.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 2178/TCT-CS | Hà Nội, ngày 09 tháng 6 năm 2008 |
Kính gửi: Cục thuế tỉnh Đồng Tháp
Trả lời công văn số 903/CT-TT&HT ngày 5/5/2008 của Cục thuế tỉnh Đồng Tháp về chính sách thuế, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Tại điểm 1.2.d3, mục III phần B Thông tư số 32/2007/TT-BTC ngày 09/4/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 158/2003/NĐ-CP ngày 10/12/2003, Nghị định số 148/2004/NĐ-CP ngày 23/7/2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế GTGT và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT quy định về thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu:
“d.3- Hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu phải thanh toán qua ngân hàng theo hướng dẫn sau đây:
Hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu phải thanh toán qua ngân hàng.
Thanh toán qua ngân hàng là việc chuyển tiền từ tài khoản của bên nhập khẩu sang tài khoản mang tên bên xuất khẩu mở tại ngân hàng theo các hình thức thanh toán phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng và quy định của ngân hàng. Chứng từ thanh toán tiền là giấy báo Có của ngân hàng bên xuất khẩu về số tiền đã nhận được từ tài khoản của ngân hàng bên nhập khẩu. Trường hợp tiền hàng xuất khẩu được thanh toán một phần vào tài khoản mang tên cơ sở kinh doanh xuất khẩu một phần vào tài khoản của cá nhân là người đại diện hợp pháp hoặc đại diện theo uỷ quyền của cơ sở kinh doanh thì doanh nghiệp xuất khẩu chỉ được khấu trừ thuế GTGT đầu vào của phần hàng xuất khẩu tương ứng với phần doanh thu được phía nước ngoài thanh toán vào tài khoản của cơ sở kinh doanh. Trường hợp thanh toán chậm trả, phải có thỏa thuận ghi trong hợp đồng xuất khẩu, đến thời hạn thanh toán cơ sở kinh doanh phải có chứng từ thanh toán qua ngân hàng. Trường hợp uỷ thác xuất khẩu thì bên nhận uỷ thác xuất khẩu phải thanh toán với nước ngoài qua ngân hàng...”
Công ty cổ phần XNK Sa Giang ký hợp đồng uỷ thác xuất khẩu cho Công ty TNHH TM DV vận tải Vịnh Nghi nhưng bên nhập khẩu lại thanh toán trực tiếp cho Công ty cổ phần XNK Sa Giang chứ không thanh toán qua ngân hàng cho bên nhận uỷ thác xuất khẩu. Như vậy, căn cứ vào hướng dẫn nêu trên, hình thức thanh toán này không được coi là đúng quy định để được xem xét khấu trừ, hoàn thuế GTGT.
Tổng cục Thuế trả lời để Cục thuế được biết./.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1Thông tư 32/2007/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 158/2003/NĐ-CP, Nghị định 148/2004/NĐ-CP và Nghị định 156/2005/NĐ-CP thi hành Luật thuế giá trị gia tăng và Luật thuế giá trị gia tăng sửa đổi do Bộ Tài chính ban hành
- 2Nghị định 148/2004/NĐ-CP sửa đổi Khoản 1 Điều 7 Nghị định 158/2003/NĐ-CP Hướng dẫn Luật Thuế giá trị gia tăng và Luật Thuế giá trị gia tăng sửa đổi
Công văn số 2178/TCT-CS về việc thanh toán qua ngân hàng do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 2178/TCT-CS
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 09/06/2008
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Phạm Duy Khương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 09/06/2008
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
