Giới thiệu về Công văn số 1950/TCT-CS
Công văn số 1950/TCT-CS do Tổng cục Thuế ban hành là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ thuế quan trọng liên quan đến việc sử dụng vé máy bay điện tử. Văn bản này tháo gỡ các vướng mắc cho doanh nghiệp trong việc xác định điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng (GTGT) đầu vào và tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đối với các khoản chi phí mua vé máy bay điện tử cho người lao động đi công tác.
Điều kiện khấu trừ thuế GTGT và tính vào chi phí được trừ khi tính thuế TNDN
Theo hướng dẫn tại Công văn số 1950/TCT-CS và các quy định pháp luật về thuế hiện hành, để chi phí mua vé máy bay điện tử được chấp nhận là hợp lệ, doanh nghiệp cần đáp ứng đầy đủ các điều kiện và chuẩn bị các chứng từ sau:
- Trường hợp doanh nghiệp trực tiếp mua vé: Doanh nghiệp phải có vé máy bay điện tử (thẻ đặt chỗ/phiếu thu tiền vé máy bay điện tử), thẻ lên máy bay (boarding pass) và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt theo quy định (đối với các hóa đơn có tổng thanh toán từ 20 triệu đồng trở lên).
- Trường hợp doanh nghiệp giao cho người lao động tự mua vé: Nếu doanh nghiệp cử người lao động đi công tác và cho phép người lao động tự mua vé máy bay, thanh toán bằng thẻ ngân hàng cá nhân, sau đó doanh nghiệp thanh toán lại cho người lao động, bộ hồ sơ hợp lệ bao gồm: Quyết định cử đi công tác; Vé máy bay điện tử; Thẻ lên máy bay (boarding pass); Chứng từ thanh toán của doanh nghiệp cho cá nhân người lao động; Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt của cá nhân người lao động khi mua vé.
- Tính hợp pháp của hóa đơn đặc thù: Vé máy bay điện tử được coi là hóa đơn đặc thù nếu hiển thị đầy đủ các chỉ tiêu thông tin bắt buộc theo quy định của pháp luật về hóa đơn, chứng từ.
Vai trò của thẻ lên máy bay (Boarding Pass) trong hồ sơ quyết toán thuế
Công văn số 1950/TCT-CS làm rõ tính pháp lý và sự cần thiết của thẻ lên máy bay trong việc chứng minh chuyến đi thực tế của người lao động:
- Thẻ lên máy bay là chứng từ bắt buộc đi kèm với vé máy bay điện tử để chứng minh người lao động thực tế có tham gia chuyến bay, phục vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Trường hợp doanh nghiệp làm mất thẻ lên máy bay, để được tính vào chi phí được trừ, doanh nghiệp phải có các chứng từ thay thế hợp pháp khác để chứng minh chuyến đi thực tế như: Quyết định cử đi công tác, văn bản xác nhận của hãng hàng không về việc khách hàng đã thực hiện chuyến bay, hoặc các tài liệu liên quan khác chứng minh tính thực tế của chuyến công tác.
Yêu cầu về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt
Đối với các hóa đơn mua vé máy bay điện tử có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên (đã bao gồm thuế GTGT), doanh nghiệp bắt buộc phải thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt:
- Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt phải thể hiện rõ tài khoản chuyển tiền là của doanh nghiệp và tài khoản nhận tiền là của đơn vị cung cấp dịch vụ bay (hoặc đại lý được ủy quyền).
- Đối với trường hợp cá nhân tự thanh toán bằng thẻ tín dụng cá nhân, doanh nghiệp phải ban hành quy chế tài chính hoặc quy chế nội bộ cho phép người lao động thanh toán bằng thẻ cá nhân và được doanh nghiệp hoàn trả lại bằng hình thức chuyển khoản hoặc tiền mặt.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH TỔNG CỤC THUẾ ----- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 1950/TCT-CS | Hà Nội, ngày 21 tháng 05 năm 2008 |
Kính gửi: Cục thuế tỉnh Khánh Hòa
Trả lời Công văn số 1277/CT-HQTA ngày 7/4/2008 của Cục thuế tỉnh Khánh Hòa về việc vé máy bay điện tử, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Tại điều 2, Quyết định số 18/2007/QĐ-BTC ngày 22/3/2007 của Bộ Tài chính về việc in, phát hành, sử dụng và quản lý vé máy bay điện tử có quy định:
“Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày đăng công báo”
Tại Điều 4, Điều 5, Điều 6 Quy chế in, phát hành, sử dụng và quản lý vé máy bay điện tử ban hành kèm theo Quyết định số 18/2007/QĐ-BTC ngày 22/3/2007 của Bộ Tài chính về việc in, phát hành, sử dụng và quản lý vé máy bay điện tử có quy định:
“2- Giao vé điện tử cho khách hàng:
- Đối với khách hàng mua vé trực tuyến qua các website thì vé điện tử giao cho khách hàng theo quy định của Luật Giao dịch điện tử.
- Đối với khách hàng mua vé trực tiếp tại quầy bán vé thì vé điện tử giao cho khách hàng là tờ “hành trình/phiếu thu” kèm theo Phiếu thu tiền cước vận chuyển (theo mẫu kèm theo Quy chế này).”
“Điều 5. Đăng ký sử dụng vé điện tử
Tổ chức kinh doanh vận tải hàng không, có hệ thống phần mềm để lập, quản lý vé điện tử theo quy định của Hiệp hội hàng không quốc tế được sử dụng mẫu vé điện tử theo quy định Hiệp hội hàng không quốc tế và thực hiện việc đăng ký sử dụng với Cục Thuế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi tổ chức kinh doanh vận tải hàng không đóng trụ sở chính. Thủ tục đăng ký sử dụng vé điện tử như sau:
- Đăng ký mẫu vé điện tử thực hiện theo quy định tại Thông tư số 120/2002/TT-BTC ngày 30/12/2002 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 89/2002/NĐ-CP ngày 07/11/2002 của Chính phủ về in, phát hành, sử dụng, quản lý hóa đơn.
- Đăng ký lưu hành: đăng ký số lượng vé sẽ sử dụng trong 1 năm chi tiết đến ký hiệu vé, số vé”.
“Điều 6. In vé điện tử
1- Vé điện tử giao dịch bằng phương tiện điện tử là dữ liệu vé điện tử của Hãng hàng không gửi đến cho khách hàng, chứng từ điện tử này phải theo quy định của Luật Giao dịch điện tử, quy định của Luật kế toán và khách hàng có thể tự in ra.
2- Vé điện tử giao dịch trực tiếp với khách hàng tại quầy vé do Hãng hàng không hoặc Đại lý bán vé in trực tiếp từ hệ thống dữ liệu máy tính (tờ hành trình/phiếu thu) kèm theo Phiếu thu tiền cước vận chuyển giao cho khách hàng”.
Căn cứ hướng dẫn nêu trên, vé máy bay điện tử khi giao cho khách hàng mua trực tiếp tại quầy bán vé là tờ “hành trình/phiếu thu” kèm theo Phiếu thu tiền cước vận chuyển theo mẫu quy định tại Quy chế in, phát hành, sử dụng và quản lý vé máy bay điện tử ban hành theo Quyết định số 18/2007/QĐ-BTC nêu trên, đã được đăng ký mẫu, đăng ký lưu hành với cơ quan thuế.
Phiếu thu cước vận chuyển hàng không ký hiệu AA/99, số 3308 ban hành theo công văn số 3454 TCT/NV2 ngày 6/7/1999 chỉ có giá trị sử dụng để cung cấp cho khách hàng mua vé máy bay truyền thống bằng giấy theo quy định. Phiếu thu tiền này phải kèm theo cuống vé máy bay thì mới được xem là chứng từ hợp pháp để khấu trừ thuế giá trị gia tăng, tính vào chi phí hợp lý của doanh nghiệp.
Cục Thuế tỉnh Khánh Hòa cần xác định cụ thể trường hợp của Bà Trần Thị Phương Dung là mua vé máy bay điện tử hoặc mua vé máy bay truyền thống để kết luận loại chứng từ nào là hợp pháp.
Tổng cục Thuế trả lời Cục thuế tỉnh Khánh Hòa được biết và hướng dẫn đơn vị thực hiện./.
|
Nơi nhận: - Như trên; - Vụ PC; - Ban PC, TVQT, HT; - Lưu: VT, CS (3b), | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG
Phạm Duy Khương |
Công văn số 1950/TCT-CS về việc vé máy bay điện tử do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 1950/TCT-CS
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 21/05/2008
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Phạm Duy Khương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 21/05/2008
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
