Tóm tắt Công văn số 1768/TCT-TNCN về thuế thu nhập cá nhân đối với khoản trợ cấp thôi việc
Công văn số 1768/TCT-TNCN của Tổng cục Thuế hướng dẫn chi tiết về chính sách thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với các khoản trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm chi trả cho người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động. Đây là văn bản hướng dẫn quan trọng giúp các doanh nghiệp và người lao động thực hiện đúng nghĩa vụ thuế đối với các khoản thu nhập phát sinh từ việc chấm dứt quan hệ lao động.
1. Khoản trợ cấp thôi việc thuộc diện miễn thuế TNCN
Theo quy định của pháp luật về thuế TNCN và hướng dẫn tại công văn, các khoản trợ cấp sau đây không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của người lao động:
- Trợ cấp thôi việc được chi trả theo đúng quy định của Bộ luật Lao động và Luật Bảo hiểm xã hội khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động hợp pháp.
- Mức trợ cấp thôi việc được miễn thuế được tính toán dựa trên thời gian làm việc thực tế tại doanh nghiệp (trừ thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp) và mức lương bình quân theo quy định của pháp luật lao động.
- Khoản trợ cấp mất việc làm được chi trả đúng đối tượng và định mức quy định của pháp luật về lao động cũng thuộc diện được miễn thuế TNCN.
2. Quy định đối với khoản trợ cấp thôi việc vượt mức hoặc ngoài quy định
Đối với các khoản tiền hỗ trợ, trợ cấp thôi việc mà doanh nghiệp chi trả thêm cho người lao động cao hơn mức quy định của Bộ luật Lao động (khoản hỗ trợ tự nguyện, trợ cấp thêm ngoài luật), chính sách thuế TNCN được áp dụng như sau:
- Phần chi vượt mức quy định của Bộ luật Lao động được xác định là thu nhập chịu thuế TNCN từ tiền lương, tiền công của người lao động.
- Nếu khoản chi trả này được thực hiện sau khi đã chấm dứt hợp đồng lao động và có mức chi trả từ 2.000.000 đồng trở lên cho mỗi lần chi trả, doanh nghiệp có trách nhiệm khấu trừ thuế TNCN theo thuế suất 10% trên tổng thu nhập chi trả.
- Nếu khoản chi trả được thực hiện trong thời gian hợp đồng lao động vẫn còn hiệu lực (chi trả trước khi chính thức chấm dứt hợp đồng), khoản thu nhập này phải được cộng gộp vào thu nhập từ tiền lương, tiền công trong tháng để tính thuế theo biểu thuế lũy tiến từng phần.
3. Trách nhiệm khấu trừ, kê khai và quyết toán thuế
Công văn cũng làm rõ trách nhiệm của các bên liên quan trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế đối với khoản trợ cấp thôi việc:
- Doanh nghiệp (tổ chức chi trả thu nhập) có trách nhiệm khấu trừ tiền thuế TNCN đối với phần trợ cấp vượt mức trước khi thanh toán cho người lao động, đồng thời thực hiện kê khai và nộp số thuế đã khấu trừ vào ngân sách nhà nước.
- Doanh nghiệp phải cấp chứng từ khấu trừ thuế TNCN cho người lao động khi có yêu cầu để người lao động làm căn cứ thực hiện quyết toán thuế hoặc hoàn thuế sau này.
- Người lao động có trách nhiệm tự theo dõi, tổng hợp các nguồn thu nhập và thực hiện quyết toán thuế TNCN trực tiếp với cơ quan thuế nếu thuộc trường hợp phải quyết toán theo quy định của pháp luật.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 1768/TCT-TNCN | Hà Nội, ngày 19 tháng 05 năm 2006 |
Kính gửi: Cục thuế Thành phố Hà Nội văn phòng đại diện SUMITOMO tại Hà Nội
Tổng cục Thuế nhận được văn bản ngày 28/3/2006 của Văn phòng đại diện tại Hà Nội của tập đoàn Sumitomo về thuế TNCN đối với khoản trợ cấp thôi việc. Về vấn đề này, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Căn cứ Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao và các văn bản hướng dẫn hiện hành thì: Trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm theo chế độ Nhà nước quy định không thuộc diện chíu thuế TNCN.
Căn cứ Bộ luật Lao động và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động số 35/2002/QH10 ngày 02/4/2002 thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm cho người lao động khi chấm dứt hợp đồng cho người lao động thôi việc.
Theo đó, khoản trợ cấp thôi việc Văn phòng chi trả cho người lao động khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động, không còn làm việc cho Văn phòng là khoản thu nhập không chịu thuế TNCN. Đối với khoản thu nhập mà Văn phòng chi trả cho người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động nhưng người lao động vẫn tiếp tục làm việc cho Văn phòng không được coi là khoản trợ cấp thôi việc, do đó phải kê khai nộp thuế TNCN theo quy định.
Tổng cục Thuế thông báo để Cục thuế thành phố Hà Nội, Văn phòng đại diện tại Hà Nội của tập đoàn Sumitomo biết và thực hiện./.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1Công văn số 1294/TCT-ĐTNN của Tổng Cục Thuế về vấn đề chứng từ xác định trợ cấp thôi việc của các nhân viên làm việc tại Văn phòng đại diện Unilever N.V tại Việt Nam
- 2Bộ luật Lao động 1994
- 3Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao năm 2001
- 4Bộ Luật Lao động sửa đổi 2002
- 5Pháp lệnh sửa đổi Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao năm 2004
Công văn số 1768/TCT-TNCN của Tổng Cục thuế về thuế thu nhập cá nhân đối với khoản trợ cấp thôi việc
- Số hiệu: 1768/TCT-TNCN
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 19/05/2006
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Nguyễn Thị Cúc
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 19/05/2006
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
