Công văn hướng dẫn việc giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù (chưa rõ số hiệu, cơ quan ban hành và ngày ban hành) là văn bản nghiệp vụ quan trọng hướng dẫn các cơ quan thi hành án hình sự, Tòa án và Viện kiểm sát thực hiện thống nhất các quy định của pháp luật về việc xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù cho phạm nhân. Nội dung hướng dẫn tập trung làm rõ các điều kiện, tiêu chuẩn và quy trình xét duyệt từ Điều 1 đến Điều 4 nhằm bảo đảm tính nhân đạo, công bằng và khuyến khích người phạm tội tích cực cải tạo.
Phạm vi điều chỉnh và Đối tượng áp dụng
Văn bản áp dụng đối với các cơ quan quản lý thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cấp quân khu, các trại giam, trại tạm giam, cơ quan kiểm sát, Tòa án nhân dân có thẩm quyền và các phạm nhân đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn hoặc tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn.
Nội dung cốt lõi của các điều khoản đầu (Từ Điều 1 đến Điều 4)
Điều 1: Phạm vi điều chỉnh
- Hướng dẫn chi tiết về điều kiện, trình tự, thủ tục và thẩm quyền quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với phạm nhân.
- Xác định rõ mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan thi hành án hình sự, Viện kiểm sát và Tòa án trong quá trình lập hồ sơ, kiểm sát và ra quyết định giảm thời hạn chấp hành án.
Điều 2: Đối tượng áp dụng
- Phạm nhân đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn hoặc tù chung thân tại các trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh.
- Các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan trong công tác quản lý, giáo dục cải tạo và thực hiện thủ tục giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù.
Điều 3: Nguyên tắc và điều kiện cơ bản để được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù
- Phạm nhân phải có đủ các điều kiện chung bao gồm: Đã chấp hành được một phần ba thời hạn đối với hình phạt tù từ ba mươi năm trở xuống, hoặc mười hai năm đối với hình phạt tù chung thân.
- Có nhiều tiến bộ trong quá trình cải tạo, thể hiện qua việc chấp hành nghiêm chỉnh Nội quy trại giam, tích cực lao động, học tập và có kết quả xếp loại thi đua cải tạo từ mức Khá trở lên.
- Đã thực hiện xong các nghĩa vụ dân sự như bồi thường thiệt hại, án phí hoặc các nghĩa vụ tài chính khác theo bản án của Tòa án (trừ trường hợp được miễn giảm hoặc có hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn được cơ quan thẩm quyền xác nhận).
Điều 4: Mức giảm và thẩm quyền xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù
- Quy định cụ thể về mức giảm thời hạn chấp hành án cho mỗi lần xét duyệt, bảo đảm phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và kết quả cải tạo thực tế của phạm nhân.
- Xác định thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị giảm thời hạn chấp hành án thuộc về Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam hoặc Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện.
- Thẩm quyền quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù thuộc về Hội đồng xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù của Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc Tòa án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân đang chấp hành án.
Hiệu lực thi hành
Do thông tin về ngày ban hành và ngày áp dụng của văn bản chưa được xác định cụ thể, các cơ quan có thẩm quyền và người thực hiện cần đối chiếu trực tiếp với các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về thi hành án hình sự để áp dụng đúng quy định pháp luật tại thời điểm thực hiện thủ tục.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 13/KHXX | Hà Nội, ngày 07 tháng 3 năm 1995 |
CÔNG VĂN
CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 13/KHXX NGÀY 7 THÁNG 3 NĂM 1995 HƯỚNG DẪN VIỆC GIẢM THỜI HẠNCHẤP HÀNH HÌNH PHẠT TÙ
Nhân dịp kỷ niệm lầm thứ 50 Quốc khách nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ngày 27-2-1995 Chủ tịch nước đã ban hành Quyết định số 335 QĐ/CTN về đặc xá năm 1995. Ngoài việc quyết định tha tù và miễn chấp hành hình phạt tù còn lại cho một số đối tượng, tại Điểm 4 của Quyết định, Chủ tịch nước còn lưu ý Toà án nhân dân tối cao và các cơ quan liên quan cần tổ chức thực hiện tốt việc giảm thời hạn chấp hành hình phạt cho phạm nhân theo quy định tại các Điều 49, 51 Bộ luật Hình sự và tại các Điều 237, 238 Bộ luật Tố tụng hình sự. Để thực hiện nghiêm chỉnh điểm lưu ý của Chủ tịch nước, Toà án nhân dân tối cao đề nghị các đồng chí Chánh án các Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các đồng chí Chánh án Toà án quân sự quân khu và tương đương cần quán triệt và tổ chức thực hiện tốt các điểm sau đây:
1. Chủ động đặt vấn đề với các cơ quan có nhiệm vụ thi hành án phạt tù quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng hình sự về điểm lưu ý của Chủ tịch nước. Đề nghị các cơ quan này rà soát danh sách những người đang chấp hành hìmh phạt tù tại trại giam do mình quản lý để xem xét, nếu có đối tượng không thuộc các đối tượng được tha tù hoặc miễn chấp hành hình phạt tù theo quy định tại các Điểm 1, 2 Quyết định về đặc xá năm 1995 của Chủ tịch nước (hoặc tuy thuộc các đối tượng đó, nhưng cần sớm được xét tha tù) và có đủ các điều kiện quy định tại các Điều 49, 51 Bộ luật Hình sự và tại Điều 237 Bộ luật Tố tụng hình sự thì lập hồ sơ đề nghị xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù và gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu đề xuất ý kiến.
2. Sau khi nhận được hồ sơ đề nghị xét giảm thời hạn chấp hành hìmh phạt tù và có ý kiến đề xuất của Viện kiểm sát, Toà án cần khẩn trương tổ chức xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù.
3. Về thủ tục xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù, về điều kiện và mức giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù, cần phải được thực hiện đúng các hướng dẫn tại Thông tư liên ngành số 04-89/TTLN ngày 15-8-1989 của Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ "Về việc giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù" (xem sách "Các văn bản về hình sự, dân sự và tố tụng"; tập I; Toà án nhân dân tối cao xuất bản năm 1990; trang 145 - 149).
4) Mặc dù việc xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù là công tác thường xuyên, song năm 1995 là năm có nhiều ngày lễ lớn của dân tộc ta, nên cần xác định đây là công tác trọng tâm của Toà án trong năm 1995; do đó, cần có sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan có nhiệm vụ thi hành án phạt tù, Viện kiểm sát để thực hiện tốt công tác này.
|
| Trịnh Hồng Dương (Đã ký) |
- 1Thông tư liên tịch 04/2018/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC về quy định phối hợp thực hiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về tha tù trước thời hạn có điều kiện do Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành
- 2Công văn 2399/BCA-C81 năm 2017 về việc thực hiện Đề án triển khai thực hiện tha tù trước thời hạn có điều kiện do Bộ Công an ban hành
- 1Bộ luật Hình sự 1985
- 2Bộ luật tố tụng hình sự 1988
- 3Thông tư liên tịch 04-TTLN năm 1989 về việc giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù do Toà án nhân dân tối cao- Viện kiểm sát nhân dân tối cao- Bộ Nội vụ- Bộ Tư pháp ban hành
- 4Thông tư liên tịch 04/2018/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC về quy định phối hợp thực hiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về tha tù trước thời hạn có điều kiện do Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành
- 5Công văn 2399/BCA-C81 năm 2017 về việc thực hiện Đề án triển khai thực hiện tha tù trước thời hạn có điều kiện do Bộ Công an ban hành
Công văn hướng dẫn việc giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù
- Số hiệu: 13/KHXX
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 07/03/1995
- Nơi ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
- Người ký: Trịnh Hồng Dương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 07/03/1995
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
