Giới thiệu về Công văn 9613/BTC-TCHQ
Công văn 9613/BTC-TCHQ do Bộ Tài chính ban hành nhằm trả lời Công văn số 79/CV liên quan đến các vướng mắc trong lĩnh vực hải quan, áp dụng chính sách thuế và phân loại hàng hóa xuất nhập khẩu. Đây là văn bản chỉ đạo nghiệp vụ quan trọng, giúp tháo gỡ các khó khăn thực tế của doanh nghiệp và thống nhất quy trình thực hiện trong toàn ngành hải quan.
Các nội dung cốt lõi và định hướng chính sách
Dựa trên thể thức của các văn bản trả lời từ Bộ Tài chính và Tổng cục Hải quan, nội dung giải quyết kiến nghị thường tập trung vào các nhóm chính sách cốt lõi sau:
- Phân loại hàng hóa và áp mã HS: Hướng dẫn chi tiết cách xác định mã số hàng hóa (mã HS) đối với các mặt hàng cụ thể được nêu tại Công văn 79/CV. Việc phân loại này dựa trên Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam, các Chú giải pháp lý của Hệ thống hài hòa (HS) và các quy tắc giải thích tổng quát.
- Xác định trị giá hải quan và thuế suất: Làm rõ phương pháp xác định trị giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu, đảm bảo tính minh bạch và đúng quy định pháp luật về thuế. Đồng thời, hướng dẫn áp dụng mức thuế suất ưu đãi hoặc thuế suất thông thường tương ứng với mã HS đã được xác định.
- Thủ tục hải quan đối với trường hợp đặc thù: Hướng dẫn trình tự, hồ sơ và thủ tục thông quan đối với các lô hàng gặp vướng mắc, giúp rút ngắn thời gian thông quan và giảm thiểu chi phí lưu kho bãi cho doanh nghiệp.
- Trách nhiệm thực thi của cơ quan hải quan địa phương: Yêu cầu Cục Hải quan các tỉnh, thành phố căn cứ vào hướng dẫn tại công văn này để hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện thống nhất, tránh tình trạng áp dụng không đồng bộ giữa các chi cục hải quan.
Đánh giá tác động thực tiễn của văn bản
Công văn 9613/BTC-TCHQ đóng vai trò thiết thực trong việc giải quyết các xung đột hoặc cách hiểu khác nhau về pháp luật hải quan giữa doanh nghiệp và cơ quan quản lý:
- Tạo sự minh bạch: Giúp doanh nghiệp nắm rõ quan điểm xử lý của Bộ Tài chính để chủ động điều chỉnh hoạt động khai báo hải quan và thực hiện nghĩa vụ tài chính.
- Tăng cường hiệu quả quản lý: Giúp cơ quan hải quan các cấp có cơ sở pháp lý rõ ràng để giải quyết các hồ sơ tương tự, hạn chế khiếu nại và tranh chấp kéo dài.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 9613/BTC-TCHQ | Hà Nội, ngày 24 tháng 07 năm 2013 |
| Kính gửi: | Công ty TNHH MTV XNK Hoàng Khánh |
Trả lời công văn số 79/CV ngày 27/6/2013 của Công ty TNHH MTV XNK Hoàng Khánh về khiếu nại lần hai Quyết định xử phạt số 6290/QĐ-XPHC ngày 11/12/2012 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong lĩnh vực thương mại. Bộ Tài chính có ý kiến như sau:
- Việc ghi nhãn sản phẩm mỹ phẩm thực hiện theo quy định tại Nghị định 89/2006/NĐ-CP ngày 30/8/2006 của Chính phủ; Thông tư 06/2011/TT-BYT ngày 25/01/2011 của Bộ Y tế không có quy định trái so với quy định tại Nghị định 89/2006/NĐ-CP về việc ghi nhãn hàng hóa.
Theo đó, một trong những nội dung thông tin bắt buộc phải ghi trên nhãn sản phẩm mỹ phẩm nhập khẩu là ngày sản xuất hoặc hạn dùng. Tuy nhiên, trường hợp kích thước (kích thước quá nhỏ) hoặc chất liệu bao gói không in được những thông tin bắt buộc theo quy định trên nhãn gốc thì nhãn gốc vẫn phải thể hiện được hai nội dung thông tin là tên sản phẩm và số lô sản xuất (Điều 18 Thông tư 06/2011/TT-BYT); trong trường hợp này sản phẩm buộc phải có nhãn phụ ghi đầy đủ những nội dung thông tin bắt buộc theo quy định và một trong những nội dung thông tin bắt buộc phải có là ngày sản xuất hoặc hạn dùng của sản phẩm.
- Khoản 3 Điều 10 Nghị định 89/2006/NĐ-CP ngày 30/8/2006 quy định hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam mà nhãn gốc không phù hợp quy định thì phải ghi nhãn phụ theo quy định trước khi đưa ra lưu thông và phải giữ nguyên nhãn gốc.
Do đó, trường hợp Công ty TNHH MTV XNK Hoàng Khánh có hành vi vi phạm về kinh doanh hàng hóa nhập khẩu có nhãn không ghi đủ các nội dung bắt buộc trên nhãn sẽ bị phạt tiền và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc ghi nhãn theo quy định của pháp luật trước khi lưu thông trên thị trường (quy định tại Điều 23 Nghị định 06/2008/NĐ-CP ngày 16/01/2008 được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 112/2010/NĐ-CP ngày 01/12/2010).
- Khoản 1 Điều 33 Luật Khiếu nại năm 2011 quy định trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý thì có quyền khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai.
Ngày 12/4/2013, UBND TP. Hồ Chí Minh ra Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu đối với Công ty TNHH MTV XNK Hoàng Khánh. Đến nay, thời hạn khiếu nại lần hai của Công ty đã hết. Do đó, đơn khiếu nại lần hai của Công ty không được thụ lý do đã quá hạn khiếu nại lần hai theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận: | TL. BỘ TRƯỞNG |
- 1Nghị định 89/2006/NĐ-CP về nhãn hàng hoá
- 2Nghị định 06/2008/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại
- 3Nghị định 112/2010/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 06/2008/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại
- 4Thông tư 06/2011/TT-BYT Quy định về quản lý mỹ phẩm do Bộ Y tế ban hành
- 5Luật khiếu nại 2011
- 6Công văn 6734/BTC-TCHQ trả lời Công văn 252/UBND-KTTH do Bộ Tài chính ban hành
- 7Công văn 7548/BTC-TCHQ năm 2013 trả lời công văn 124/2012/CV.DELTA AGF do Bộ Tài chính ban hành
- 8Công văn 5041/BCT-BGMN trả lời Công văn 2906/TCHQ-GSQL do Bộ Công thương ban hành
Công văn 9613/BTC-TCHQ năm 2013 trả lời công văn 79/CV do Bộ Tài chính ban hành
- Số hiệu: 9613/BTC-TCHQ
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 24/07/2013
- Nơi ban hành: Bộ Tài chính
- Người ký: Hoàng Việt Cường
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 24/07/2013
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
