Tổng quan về Công văn 719/TCT-CS về xử lý vi phạm pháp luật thuế
Công văn 719/TCT-CS do Tổng cục Thuế ban hành là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng dành cho Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Văn bản này tập trung giải quyết các vướng mắc, thống nhất quy trình và thẩm quyền trong việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về thuế và hóa đơn, đảm bảo tính nghiêm minh, công bằng và đúng quy định pháp luật.
Nguyên tắc cốt lõi trong xử lý vi phạm pháp luật thuế
Tổng cục Thuế nhấn mạnh các nguyên tắc pháp lý nền tảng mà cơ quan thuế các cấp phải tuân thủ nghiêm ngặt khi tiến hành xử lý vi phạm:
- Tuân thủ thẩm quyền và trình tự thủ tục: Mọi quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế phải được ban hành bởi người có thẩm quyền, tuân thủ đúng thời hạn, thời hiệu và trình tự được quy định tại Luật Quản lý thuế và Luật Xử lý vi phạm hành chính.
- Xác định hành vi khách quan: Việc lập biên bản vi phạm hành chính phải dựa trên các chứng cứ rõ ràng, khách quan, phản ánh đúng bản chất của hành vi vi phạm.
- Áp dụng tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng: Cơ quan thuế cần xem xét kỹ lưỡng các tình tiết như người nộp thuế tự nguyện khắc phục hậu quả, thành khẩn khai báo (giảm nhẹ) hoặc hành vi tái phạm, vi phạm có quy mô lớn (tăng nặng) để quyết định mức phạt tối ưu trong khung quy định.
Hướng dẫn xử lý các hành vi vi phạm phổ biến
Công văn đưa ra các chỉ dẫn cụ thể đối với từng nhóm hành vi vi phạm thường gặp trong thực tế quản lý thuế:
- Vi phạm về thời hạn nộp hồ sơ khai thuế: Tùy thuộc vào số ngày chậm nộp hồ sơ khai thuế so với thời hạn quy định, cơ quan thuế áp dụng các mức phạt từ cảnh cáo đến phạt tiền. Trường hợp chậm nộp hồ sơ khai thuế nhưng không phát sinh số thuế phải nộp vẫn bị xử phạt theo khung hành vi không nộp hồ sơ khai thuế.
- Hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp: Đối với hành vi khai sai căn cứ tính thuế hoặc số tiền thuế được khấu trừ dẫn đến thiếu số thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, người nộp thuế sẽ bị xử phạt 20% tính trên số tiền thuế thiếu hoặc số tiền thuế đã được hoàn cao hơn. Đồng thời, bắt buộc phải nộp đủ số tiền thuế thiếu và tiền chậm nộp vào ngân sách nhà nước.
- Hành vi trốn thuế: Các hành vi như không nộp hồ sơ đăng ký thuế, sử dụng hóa đơn không hợp pháp, hoặc để ngoài sổ sách kế toán các khoản doanh thu nhằm trốn thuế sẽ bị xử phạt từ 1 đến 3 lần số tiền thuế trốn.
Quy trình phối hợp và chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra
Để nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm về thuế, Công văn 719/TCT-CS hướng dẫn chi tiết cơ chế phối hợp giữa cơ quan thuế và cơ quan công an:
- Chuyển hồ sơ khi có dấu hiệu tội phạm: Trong quá trình thanh tra, kiểm tra thuế, nếu phát hiện hành vi trốn thuế có dấu hiệu cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự, cơ quan thuế phải tạm dừng việc ra quyết định xử phạt hành chính và chuyển ngay hồ sơ vụ việc sang cơ quan điều tra có thẩm quyền.
- Thời hạn và thủ tục chuyển giao: Việc chuyển giao hồ sơ phải được thực hiện bằng văn bản, kèm theo đầy đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi vi phạm để cơ quan điều tra có căn cứ thụ lý.
- Xử lý kết quả từ cơ quan điều tra: Nếu cơ quan điều tra ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự do hành vi chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, cơ quan thuế sẽ tiếp nhận lại hồ sơ và tiến hành xử phạt vi phạm hành chính theo đúng quy định.
Trách nhiệm tổ chức thực hiện của cơ quan thuế các cấp
Tổng cục Thuế yêu cầu Thủ trưởng các cơ quan thuế địa phương nghiêm túc triển khai các nội dung sau:
- Tăng cường tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế: Đẩy mạnh việc phổ biến các quy định pháp luật về thuế, cảnh báo các hành vi vi phạm thường gặp để người nộp thuế chủ động phòng tránh và tự giác tuân thủ.
- Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức: Tổ chức tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ cho công chức làm công tác thanh tra, kiểm tra và pháp chế nhằm hạn chế tối đa sai sót trong quá trình thiết lập hồ sơ xử phạt.
- Tăng cường kiểm tra nội bộ: Thường xuyên giám sát hoạt động công vụ của cán bộ thuế, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp lạm dụng chức vụ, quyền hạn hoặc gây khó khăn cho người nộp thuế trong quá trình xử lý vi phạm.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 719/TCT-CS | Hà Nội, ngày 9 tháng 3 năm 2010 |
Kính gửi: Cục thuế tỉnh Quảng Ninh
Trả lời công văn số 5339/CT-TTr ngày 19/11/2009 của Cục thuế tỉnh Quảng Ninh hỏi về vướng mắc xử lý vi phạm pháp luật về thuế, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Theo quy định tại điểm 2.a, mục IV, phần B Thông tư số 41/2004/TT-BTC ngày 18/5/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế thì tuỳ theo từng tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ, mức phạt là 2 lần đến 3 lần số thuế trốn đối với hành vi "Bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ không lập hoá đơn và không kê khai nộp thuế đầy đủ";
Tại điểm 1, Điều 14 Nghị định số 98/2007/NĐ-CP ngày 7/6/2007 của Chính phủ quy định về xử lý vi phạm pháp luật về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế quy định mức phạt đối với hành vi "không xuất hoá đơn khi bán hàng hoá, dịch vụ...." là 1 lần tính trên số thuế trốn, số thuế gian lận;
Tại Điều 66 Nghị định số 98/2007/NĐ-CP nêu trên quy định: "Trường hợp mức xử phạt đối với cùng một hành vi quy định tại Nghị định này nhẹ hơn mức xử phạt quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì được áp dụng mức xử phạt theo quy định của Nghị định này, kể cả trường hợp hành vi vi phạm đã bị lập biên bản, nhưng cơ quan có thẩm quyền chưa ra quyết định xử lý hoặc đã ra quyết định xử lý nhưng đang trong thời hiệu giải quyết khiếu nại";
Điều 80 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12/11/2996 và Khoản 1 Điều 83 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 17/2008/QH12 ngày 3/6/2008 quy định: "Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm có hiệu lực. Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trong trường hợp văn bản có hiệu lực trở về trước thì thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trong trường hợp văn bản có hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó".
Căn cứ theo các quy định trên thì hành vi không lập hoá đơn khi bán hàng hoá, dịch vụ thuộc một trong những hành vi trốn thuế, gian lận thuế. Tuy nhiên, theo phản ánh của Cục thuế tỉnh Quảng Ninh thì đơn vị hạch toán đầy đủ, trung thực các nghiệp vụ kinh tế phát sinh nghĩa vụ thuế trên sổ kế toán; trường hợp này chưa được quy định cụ thể trong Công văn số 8585/BTC-TCT ngày 8/7/2005 của Bộ Tài chính (đính kèm). Vì vậy, đề nghị Cục thuế tỉnh Quảng Ninh căn cứ và những quy định cụ thể và tình hình thực tế để hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện theo đúng quy định của pháp luật tại từng thời điểm cụ thể.
Tổng cục Thuế trả lời để Cục thuế tỉnh Quảng Ninh được biết và xử lý theo đúng quy định./.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1Công văn 8585/TC/TCT của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế
- 2Nghị định 98/2007/NĐ-CP về xử lý vi phạm pháp luật về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế
- 3Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật 1996
- 4Thông tư 41/2004/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 100/2004/NĐ-CP về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế do Bộ Tài chính ban hành
- 5Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008
Công văn 719/TCT-CS xử lý vi phạm pháp luật thuế do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 719/TCT-CS
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 09/03/2010
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Phạm Duy Khương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 09/03/2010
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
