Công văn 4603/TCT-CS do Tổng cục Thuế ban hành là văn bản hướng dẫn quan trọng về việc xác định hóa đơn, chứng từ đối với hoạt động chi bồi thường bảo hiểm. Văn bản này tháo gỡ các vướng mắc cho doanh nghiệp bảo hiểm và khách hàng tham gia bảo hiểm trong việc lập chứng từ, kê khai thuế giá trị gia tăng (GTGT) và hạch toán chi phí được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN).
- Quy định về chứng từ khi nhận tiền bồi thường bảo hiểm trực tiếp
- Không phải lập hóa đơn GTGT: Theo quy định tại Khoản 1 Điều 5 Thông tư số 219/2013/TT-BTC, các khoản thu về bồi thường bằng tiền, tiền thưởng, tiền hỗ trợ, nhận chuyển nhượng quyền phát thải và các khoản thu tài chính khác không thuộc đối tượng phải kê khai, tính nộp thuế GTGT. Do đó, khi nhận tiền bồi thường từ cơ quan bảo hiểm, tổ chức nhận tiền không phải lập hóa đơn GTGT.
- Chứng từ thay thế bắt buộc: Cơ sở kinh doanh khi nhận tiền bồi thường chỉ cần lập chứng từ thu tiền (phiếu thu hoặc chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt). Đối với doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện chi tiền, căn cứ vào quyết định bồi thường, hợp đồng bảo hiểm và chứng từ chi tiền để hạch toán chi phí theo quy định.
- Hướng dẫn xử lý hóa đơn, chứng từ khi sửa chữa tài sản bảo hiểm
- Trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm thanh toán trực tiếp cho đơn vị sửa chữa: Nếu theo hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm thanh toán trực tiếp chi phí sửa chữa tài sản cho đơn vị nhận sửa chữa (như garage, đơn vị dịch vụ) và hóa đơn dịch vụ sửa chữa được xuất cho doanh nghiệp bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm được kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với hóa đơn này và hạch toán vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN.
- Trường hợp khách hàng tự thanh toán và nhận tiền bồi thường lại: Nếu khách hàng (bên mua bảo hiểm) tự mang tài sản đi sửa chữa, tự thanh toán chi phí và đơn vị sửa chữa xuất hóa đơn cho khách hàng. Sau đó, khách hàng gửi hồ sơ yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường lại bằng tiền. Trong trường hợp này, doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện chi bồi thường bằng tiền cho khách hàng theo đúng hợp đồng. Khách hàng lập chứng từ thu, doanh nghiệp bảo hiểm lập chứng từ chi và không được khấu trừ thuế GTGT đối với hóa đơn sửa chữa mang tên khách hàng.
- Điều kiện ghi nhận chi phí được trừ khi tính thuế TNDN đối với doanh nghiệp bảo hiểm
- Hồ sơ bồi thường đầy đủ: Để khoản chi bồi thường bảo hiểm được tính vào chi phí hợp lý được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN, doanh nghiệp bảo hiểm phải có đầy đủ hồ sơ theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm.
- Các chứng từ bắt buộc bao gồm: Hợp đồng bảo hiểm, đơn yêu cầu bồi thường, biên bản giám định tổn thất của doanh nghiệp bảo hiểm hoặc tổ chức giám định độc lập, quyết định bồi thường bảo hiểm, và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt (đối với các khoản chi có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên).
- Ý nghĩa pháp lý và lưu ý áp dụng thực tế
- Thống nhất phương thức hạch toán: Công văn giúp làm rõ ranh giới giữa hoạt động cung cấp dịch vụ chịu thuế GTGT và hoạt động nhận bồi thường tài chính thuần túy, tránh việc các doanh nghiệp lúng túng trong việc đòi hỏi hóa đơn GTGT từ khách hàng nhận bồi thường.
- Tránh rủi ro về thuế: Các doanh nghiệp cần lưu ý phân biệt rõ phương thức thanh toán (trực tiếp cho đơn vị sửa chữa hay bồi thường lại cho khách hàng) để áp dụng đúng quy định về khấu trừ thuế GTGT đầu vào, tránh bị cơ quan thuế xuất toán khi thanh tra, kiểm tra.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 4603/TCT-CS | Hà Nội, ngày 12 tháng 11 năm 2010 |
Kính gửi: Cục thuế tỉnh Phú Thọ
Trả lời công văn số 2805/CT-TTHT ngày 05/10/2010 của Cục thuế tỉnh Phú Thọ về việc chứng từ chi bồi thường bảo hiểm, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Tại điểm 1 mục IV phần B Thông tư số 129/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế GTGT quy định: “cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế khi bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ phải sử dụng hoá đơn GTGT ...Cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT khi bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ phải sử dụng hoá đơn bán hàng.”
Trường hợp doanh nghiệp có xe bị tai nạn gây thiệt hại tài sản có tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự với người thứ 3 về tài sản thì việc bồi thường bảo hiểm giữa các bên thực hiện theo quy định của pháp luật dân sự, pháp luật về bảo hiểm và thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm được ký kết.
Trường hợp các bên (doanh nghiệp có xe tham gia bảo hiểm; công ty xây dựng 99) thoả thuận không sửa chữa tài sản mà chỉ bồi thường bằng tiền và doanh nghiệp tham gia bảo hiểm nhận bồi thường bằng tiền mặt thì đây không phải là mua bán hàng hoá, dịch vụ nên doanh nghiệp có xe gây tai nạn không phải xuất hoá đơn khi nhận tiền bảo hiểm của Công ty Bảo hiểm chi trả mà các bên sử dụng chứng từ thu chi tiền.
Tổng cục Thuế thông báo để Cục thuế được biết./.
|
Nơi nhận: | KT.TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1Thông tư 129/2008/TT-BTC hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định 123/2008/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng do Bộ Tài chính ban hành
- 2Công văn 7316/BTC-QLBH năm 2014 hướng dẫn giải quyết bồi thường bảo hiểm đối với doanh nghiệp bị thiệt hại do Bộ Tài chính ban hành
- 3Công văn 15588/BTC-QLBH năm 2017 về giải quyết bồi thường bảo hiểm do bão, lũ gây ra do Bộ Tài chính ban hành
Công văn 4603/TCT-CS về chứng từ chi bồi thường bảo hiểm do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 4603/TCT-CS
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 12/11/2010
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Vũ Thị Mai
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 12/11/2010
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
