Công văn 4270/TCT-CS do Tổng cục Thuế ban hành nhằm hướng dẫn chính sách thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với các khoản phí cam kết rút vốn và phí đầu mối phát sinh trong hoạt động của các tổ chức tín dụng. Đây là văn bản hướng dẫn quan trọng giúp phân định rõ bản chất dịch vụ để áp dụng đúng nghĩa vụ thuế theo quy định pháp luật.
Thuế giá trị gia tăng đối với phí cam kết rút vốn
Phí cam kết rút vốn là khoản phí phát sinh trong hoạt động cấp tín dụng, được thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng và khách hàng vay. Tổng cục Thuế hướng dẫn cụ thể như sau:
- Bản chất dịch vụ: Khoản phí cam kết rút vốn được xác định là một phần cấu thành của hoạt động cấp tín dụng, liên quan trực tiếp đến việc cam kết bảo đảm nguồn vốn giải ngân cho khách hàng theo tiến độ hợp đồng.
- Chính sách thuế áp dụng: Theo quy định của Luật Thuế giá trị gia tăng và các văn bản hướng dẫn thi hành, hoạt động cấp tín dụng thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT. Do đó, khoản phí cam kết rút vốn phát sinh từ hoạt động này cũng thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT.
Thuế giá trị gia tăng đối với phí đầu mối
Phí đầu mối (thường phát sinh trong các giao dịch cấp tín dụng hợp vốn hoặc thu xếp vốn) có bản chất khác biệt so với hoạt động cấp tín dụng trực tiếp:
- Bản chất dịch vụ: Đây là khoản phí trả cho dịch vụ thu xếp, điều phối, làm đầu mối liên lạc và quản lý khoản vay giữa các tổ chức tín dụng tham gia hợp vốn và bên đi vay. Đây thực chất là dịch vụ trung gian, tư vấn và quản lý tài chính.
- Chính sách thuế áp dụng: Dịch vụ thu xếp, đầu mối quản lý khoản vay không được phân loại là hoạt động cấp tín dụng theo quy định của pháp luật về các tổ chức tín dụng. Do đó, khoản phí đầu mối này thuộc đối tượng chịu thuế GTGT với thuế suất thông thường (10%). Các tổ chức tín dụng khi thu khoản phí này phải thực hiện xuất hóa đơn, kê khai và nộp thuế GTGT theo quy định.
Hướng dẫn tổ chức thực hiện và kê khai thuế
Để đảm bảo tính thống nhất và tuân thủ đúng quy định pháp luật về thuế, Tổng cục Thuế yêu cầu các bên liên quan thực hiện các nội dung sau:
- Phân loại chính xác bản chất phí: Các tổ chức tín dụng có trách nhiệm rà soát kỹ lưỡng các điều khoản trong hợp đồng tín dụng để phân biệt rõ ràng giữa phí cam kết rút vốn (không chịu thuế GTGT) và phí đầu mối, phí thu xếp vốn (chịu thuế GTGT).
- Lập hóa đơn và kê khai: Đối với các khoản phí không chịu thuế GTGT, tổ chức tín dụng lập hóa đơn theo quy định dành cho đối tượng không chịu thuế. Đối với các khoản phí chịu thuế GTGT, tổ chức tín dụng phải lập hóa đơn GTGT, tính thuế và kê khai nộp thuế đầy đủ vào ngân sách nhà nước.
- Trách nhiệm của cơ quan thuế địa phương: Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có nhiệm vụ phổ biến, hướng dẫn và thanh tra, kiểm tra việc thực hiện nghĩa vụ thuế của các tổ chức tín dụng trên địa bàn, đảm bảo thu đúng, thu đủ và ngăn ngừa các sai phạm về thuế.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 4270/TCT-CS | Hà Nội, ngày 25 tháng 10 năm 2010 |
Kính gửi: Cục Thuế thành phố Hải Phòng
Tổng cục Thuế nhận được công văn số 1099/CT-TT&HT ngày 10/8/2010 của Cục Thuế thành phố Hải Phòng về việc đề nghị giải đáp chính sách thuế. Về vấn đề này, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Điểm 8.a Mục II Phần A Thông tư số 129/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn về đối tượng không chịu thuế GTGT: “8. Dịch vụ tài chính:
a) Dịch vụ cấp tín dụng gồm các hình thức: cho vay; chiết khấu và tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và các giấy tờ có giá khác; bảo lãnh; cho thuê tài chính và các hình thức cấp tín dụng khác theo quy định của pháp luật do các tổ chức tài chính, tín dụng tại Việt Nam cung ứng.”
Khoản 10 Điều 20 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng số 20/2004/QH11 ngày 15/6/2004 quy định: “10. Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác.”
Căn cứ các hướng dẫn nêu trên, trường hợp Bên vay phải trả cho Bên cho vay các khoản phí: Phí đầu mối (khoản phí tính trên số dư nợ gốc mà Bên vay phải trả cho Ngân hàng đầu mối) và Phí cam kết (khoản phí tính trên số tiền cam kết chưa giải ngân mà Bên vay phải trả cho các Bên cho vay) nhằm mục đích quản lý khoản vay thì các khoản phí này được coi là khoản thu dịch vụ cấp tín dụng thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT.
Tổng cục Thuế trả lời để Cục Thuế thành phố Hải Phòng được biết./.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
Công văn 4270/TCT-CS về thuế giá trị gia tăng đối với phí cam kết và phí đầu mối do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 4270/TCT-CS
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 25/10/2010
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Bùi Văn Nam
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 25/10/2010
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
