Tổng quan về Công văn 4122/TCT-CS của Tổng cục Thuế
Công văn 4122/TCT-CS do Tổng cục Thuế ban hành là một văn bản hướng dẫn quan trọng liên quan đến chính sách thuế đối với các khoản chi phí phát sinh cho người lao động nước ngoài (chuyên gia) khi nhập cảnh vào Việt Nam làm việc. Văn bản này giải quyết trực tiếp các vướng mắc thực tế của doanh nghiệp về việc hạch toán chi phí được trừ khi tính thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN) và xác định thu nhập chịu thuế Thu nhập cá nhân (TNCN) đối với các khoản chi phí cách ly phòng chống dịch bệnh.
Chính sách Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đối với chi phí cách ly
Theo hướng dẫn tại Công văn 4122/TCT-CS, các khoản chi phí liên quan trực tiếp đến việc đưa đón, cách ly và xét nghiệm cho chuyên gia nước ngoài được xem xét xử lý như sau:
- Điều kiện ghi nhận chi phí được trừ: Doanh nghiệp được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN đối với các khoản chi phí cách ly tại khách sạn, chi phí đưa đón từ nơi nhập cảnh đến nơi cách ly, và chi phí xét nghiệm cho các chuyên gia nước ngoài do doanh nghiệp chi trả.
- Yêu cầu về hồ sơ, chứng từ: Để được khấu trừ hợp lệ, doanh nghiệp phải cung cấp đầy đủ hóa đơn, chứng từ thanh toán theo quy định của pháp luật. Đồng thời, các khoản chi này phải được quy định rõ ràng trong hợp đồng lao động hoặc thỏa thuận lao động giữa doanh nghiệp và chuyên gia nước ngoài, thể hiện rõ trách nhiệm chi trả thuộc về phía người sử dụng lao động.
- Tính chất hợp lý của chi phí: Các khoản chi này được coi là chi phí liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nhằm bảo đảm nguồn nhân lực chất lượng cao vận hành dự án hoặc hoạt động kinh doanh ổn định.
Chính sách Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với người lao động
Công văn 4122/TCT-CS cũng làm rõ nghĩa vụ thuế TNCN của chuyên gia nước ngoài đối với các khoản phúc lợi hoặc chi phí phát sinh do doanh nghiệp đài thọ trong quá trình nhập cảnh:
- Trường hợp không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN: Các khoản chi phí cách ly phòng dịch, chi phí xét nghiệm và chi phí đưa đón chuyên gia từ cửa khẩu về nơi cách ly do doanh nghiệp chi trả thay không bị tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của người lao động. Đây được xem là nghĩa vụ bắt buộc của doanh nghiệp nhằm tuân thủ quy định phòng chống dịch của Nhà nước khi sử dụng lao động nước ngoài.
- Trường hợp phải tính vào thu nhập chịu thuế TNCN: Nếu doanh nghiệp chi trả các khoản chi phí mang tính chất tiêu dùng cá nhân khác ngoài phạm vi quy định bắt buộc về phòng dịch và đưa đón (ví dụ: chi phí vui chơi giải trí, ăn uống cá nhân ngoài tiêu chuẩn cách ly), các khoản này vẫn phải cộng vào thu nhập chịu thuế TNCN của chuyên gia theo quy định chung.
Chính sách Thuế giá trị gia tăng (GTGT) liên quan
Bên cạnh thuế TNDN và TNCN, việc khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với các hóa đơn dịch vụ cách ly, đưa đón cũng được hướng dẫn cụ thể:
- Khấu trừ thuế GTGT đầu vào: Doanh nghiệp được kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với các hóa đơn dịch vụ lưu trú (khách sạn cách ly), dịch vụ vận chuyển đưa đón và dịch vụ y tế xét nghiệm nếu các hóa đơn này mang tên, địa chỉ, mã số thuế của doanh nghiệp và đáp ứng đầy đủ điều kiện về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hóa đơn có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên.
- Sự nhất quán trong áp dụng: Việc khấu trừ thuế GTGT đầu vào phải đồng bộ với việc xác định chi phí được trừ khi tính thuế TNDN, đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống sổ sách kế toán của doanh nghiệp.
Đánh giá tác động và lưu ý quan trọng cho doanh nghiệp
Công văn 4122/TCT-CS mang lại sự tháo gỡ kịp thời cho các doanh nghiệp sử dụng lao động nước ngoài, giúp giảm bớt gánh nặng chi phí tài chính trong bối cảnh phát sinh nhiều thủ tục bắt buộc. Tuy nhiên, doanh nghiệp cần lưu ý các điểm sau để tránh rủi ro bị truy thu thuế khi quyết toán:
- Hoàn thiện điều khoản hợp đồng: Cần rà soát và bổ sung ngay các điều khoản về việc chi trả chi phí cách ly, xét nghiệm, đưa đón vào hợp đồng lao động, thư bổ nhiệm hoặc quy chế tài chính của công ty.
- Kiểm tra tính hợp pháp của hóa đơn: Đảm bảo các đơn vị cung cấp dịch vụ cách ly (khách sạn, công ty vận chuyển, cơ sở y tế) xuất hóa đơn đúng thông tin của doanh nghiệp và có đầy đủ biên bản bàn giao hoặc xác nhận dịch vụ đi kèm.
- Áp dụng nhất quán: Hướng dẫn tại công văn này cần được áp dụng nhất quán cho toàn bộ các đối tượng chuyên gia nước ngoài thuộc diện điều động, tuyển dụng của doanh nghiệp đáp ứng đúng các tiêu chí nêu trên.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 4122/TCT-CS | Hà Nội, ngày 19 tháng 11 năm 2012 |
Kính gửi: Cục thuế thành phố Hà Nội
Tổng cục Thuế nhận được công văn số 26681/CT-HTr ngày 18/10/2012, công văn số 19449/CT-HTr ngày 31/7/2012 của Cục thuế thành phố Hà Nội đề nghị hướng dẫn về việc sử dụng hoá đơn GTGT của Công ty cổ phần Siêu thị Thiên Anh và công văn số 17260/CT-HTr ngày 9/7/2012 của Cục thuế thành phố Hà Nội đề nghị hướng dẫn về chính sách thuế của Công ty cổ phần đá ốp lát cao cấp Vinaconex, Công ty cổ phần khóa Việt Tiệp và Ngân hàng TMCP Hàng Hải. Về việc này, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
1. Trường hợp Công ty cổ phần đá ốp lát cao cấp Vinaconex đề nghị hướng dẫn về thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu hoàn theo tháng và thuế GTGT được hoàn theo tỷ lệ tương ứng với doanh thu xuất khẩu.
Tại khoản 4, Điều 18 Thông tư số 06/2012/TT-BTC ngày 11/01/2012 của Bộ Tài chính quy định: “Cơ sở kinh doanh trong tháng có hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu nếu thuế GTGT đầu vào của hàng hóa xuất khẩu phát sinh trong tháng chưa được khấu trừ từ 200 triệu đồng trở lên thì được xét hoàn thuế theo tháng.
Cơ sở kinh doanh trong tháng vừa có hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, vừa có hàng hóa, dịch vụ bán trong nước, có số thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu phát sinh trong tháng chưa được khấu trừ từ 200 triệu đồng trở lên, nhưng sau khi bù trừ với số thuế GTGT đầu ra của hàng hóa, dịch vụ bán trong nước trên tờ khai của tháng phát sinh, nếu số thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu chưa được khấu trừ nhỏ hơn 200 triệu đồng thì cơ sở kinh doanh không được xét hoàn thuế theo tháng, nếu số thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu chưa được khấu trừ từ 200 triệu đồng trở lên thì cơ sở kinh doanh được hoàn thuế GTGT theo tháng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu.
Trường hợp không hạch toán riêng được số thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu thì số thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu được phân bổ theo tỷ lệ (%) giữa doanh thu hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu trong kỳ với tổng doanh thu của cơ sở kinh doanh trong kỳ”.
Căn cứ hướng dẫn trên, Công ty cổ phần đá ốp lát cao cấp Vinaconex trong tháng có hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu có thuế GTGT đầu vào của hàng hóa xuất khẩu phát sinh trong tháng chưa được khấu trừ từ 200 triệu đồng trở lên thì Công ty được xét hoàn thuế theo tháng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu.
Trường hợp Công ty cổ phần đá ốp lát cao cấp Vinaconex đã làm hồ sơ hoàn thuế GTGT theo tỷ lệ tương ứng với doanh thu xuất khẩu thì số thuế GTGT còn lại chưa được hoàn được tiếp tục đưa vào hồ sơ hoàn thuế kỳ tiếp theo.
2. Trường hợp của Công ty cổ phần khóa Việt Tiệp và Công ty cổ phần Siêu thị Thiên Anh:
Tại Điểm 2.8 Phụ lục 4 ban hành kèm theo Thông tư số 153/2010/TT-BTC ngày 28/9/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn:
“2.8. Tổ chức, cá nhân mua hàng hóa, người bán đã xuất hóa đơn, người mua đã nhận hàng, nhưng sau đó người mua phát hiện hàng hóa không đúng quy cách, chất lượng phải trả lại toàn bộ hay một phần hàng hóa, khi xuất hàng trả lại cho người bán, cơ sở phải lập hóa đơn, trên hóa đơn ghi rõ hàng hóa trả lại người bán do không đúng quy cách, chất lượng, tiền thuế GTGT.
Trường hợp người mua là đối tượng không có hóa đơn, khi trả lại hàng hóa, bên mua và bên bán phải lập biên bản ghi rõ loại hàng hóa, số lượng, giá trị hàng trả lại theo giá không có thuế GTGT, tiền thuế GTGT theo hóa đơn bán hàng (số ký hiệu, ngày, tháng của hóa đơn), lý do trả hàng và bên bán thu hồi hóa đơn đã lập.”
Căn cứ hướng dẫn trên, Tổng cục Thuế nhất trí với đề xuất của Cục thuế thành phố Hà Nội tại mục II công văn số 17260/CT-HTr ngày 9/7/2012 và công văn số 19449/CT-HTr ngày 31/7/2012, cụ thể: việc kê khai thuế GTGT trong trường hợp hàng bán bị trả lại, trong đó người bán dùng hóa đơn mẫu 01/GTKT, khách hàng trả lại là đối tượng sử dụng hóa đơn mẫu 02/GTTT thì xử lý tương tự như trường hợp người mua là đối tượng không có hóa đơn quy định tại Điểm 2.8, Phụ lục 4 Thông tư số 153/2010/TT-BTC ngày 28/9/2010 của Bộ Tài chính. Cục thuế căn cứ vào tình hình cụ thể của doanh nghiệp để hướng dẫn thực hiện.
3. Trường hợp Ngân hàng TMCP Hàng Hải đề nghị hướng dẫn các loại phí liên quan đến thẻ tín dụng có thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT?
Về vấn đề này, Tổng cục Thuế đang tập hợp, báo cáo Bộ Tài chính để có hướng dẫn chung.
Tổng cục Thuế thông báo để Cục thuế thành phố Hà Nội được biết./.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1Thông tư 153/2010/TT-BTC hướng dẫn Nghị định 51/2010/NĐ-CP quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ do Bộ Tài chính ban hành
- 2Thông tư 06/2012/TT-BTC hướng dẫn Luật Thuế giá trị gia tăng, Nghị định 123/2008/NĐ-CP và 121/2011/NĐ-CP do Bộ Tài chính ban hành
- 3Công văn 3939/TCT-CS vướng mắc chính sách thuế do Tổng cục Thuế ban hành
- 4Công văn 4069/TCT-CS về chính sách thuế do Tổng cục Thuế ban hành
- 5Công văn 4080/TCT-CS về chính sách thuế do Tổng cục Thuế ban hành
Công văn 4122/TCT-CS về chính sách thuế do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 4122/TCT-CS
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 19/11/2012
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Cao Anh Tuấn
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 19/11/2012
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
