Công văn 3712/TCT-TNCN do Tổng cục Thuế ban hành nhằm hướng dẫn chi tiết về chính sách thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản, đặc biệt là việc giải quyết các vướng mắc phát sinh trong giai đoạn chuyển tiếp quy định pháp luật về thuế.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Văn bản hướng dẫn áp dụng đối với các cá nhân có phát sinh hoạt động chuyển nhượng bất động sản, các Cục Thuế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, cùng các tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai và nhà ở.
Phương pháp tính thuế và thuế suất áp dụng thống nhất
- Kể từ ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế có hiệu lực thi hành, áp dụng thống nhất một phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản của cá nhân theo thuế suất 2% trên giá trị chuyển nhượng.
- Chính thức bãi bỏ phương pháp tính thuế theo thuế suất 25% trên thu nhập tính thuế (chênh lệch giữa giá bán và giá mua kèm chứng từ chi phí hợp lệ) vốn được áp dụng trước đây.
Hướng dẫn xử lý hồ sơ chuyển tiếp và thời điểm xác định nghĩa vụ thuế
- Đối với các hợp đồng chuyển nhượng bất động sản được ký kết, công chứng hoặc chứng thực trước ngày quy định mới có hiệu lực nhưng người nộp thuế nộp hồ sơ khai thuế sau thời điểm này, cơ quan thuế thực hiện tính thuế TNCN theo mức thuế suất mới là 2% trên giá chuyển nhượng.
- Trường hợp người nộp thuế đã nộp hồ sơ khai thuế trước ngày quy định mới có hiệu lực nhưng đến sau ngày này mới nhận được thông báo nộp thuế hoặc thực hiện nộp thuế, nghĩa vụ thuế được xác định theo quy định tại thời điểm nộp hồ sơ, đảm bảo nguyên tắc không hồi tố gây bất lợi cho người nộp thuế.
Nguyên tắc xác định giá chuyển nhượng để tính thuế
- Giá chuyển nhượng làm căn cứ tính thuế là giá thực tế ghi trên hợp đồng chuyển nhượng tại thời điểm chuyển nhượng bất động sản.
- Trường hợp hợp đồng chuyển nhượng không ghi giá đất hoặc giá chuyển nhượng ghi trên hợp đồng thấp hơn giá do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định tại thời điểm chuyển nhượng, giá chuyển nhượng sẽ được xác định theo bảng giá đất và giá tính lệ phí trước bạ nhà đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành.
Hiệu lực thi hành và tổ chức thực hiện
Công văn này có hiệu lực hướng dẫn áp dụng ngay nhằm tháo gỡ các vướng mắc thực tế tại các địa phương. Tổng cục Thuế yêu cầu các Cục Thuế địa phương căn cứ vào hướng dẫn tại văn bản này và các quy định pháp luật hiện hành để thực hiện tuyên truyền, hướng dẫn và giải quyết thủ tục hành chính thuế cho người dân một cách nhanh chóng, đúng quy định.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 3712/TCT-TNCN | Hà Nội, ngày 23 tháng 09 năm 2010 |
Kính gửi: Cục Thuế tỉnh Đồng Nai
Trả lời công văn số 3472/CT-TNCN ngày 06/8/2010 của Cục Thuế tỉnh Đồng Nai về việc xác định thuế TNCN đối với ông Lu Tsung Ta theo quyết định của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai. Vấn đề này, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
- Tại khoản 12, mục III, phần A Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và hướng dẫn thi hành Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 08/9/2008 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân quy định các khoản thu nhập được miễn thuế.
“12.3. Thu nhập từ bồi thường nhà nước và các khoản bồi thường khác theo quy định của pháp luật.
12.3.1. Thu nhập từ bồi thường nhà nước là khoản tiền cá nhân được bồi thường do các quyết định xử phạt vi phạm hành chính không đúng của người có thẩm quyền, của cơ quan nhà nước có thẩm quyền gây thiệt hại đến quyền lợi của cá nhân; thu nhập từ bồi thường cho người bị oan do cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự quyết định.
12.3.2. Căn cứ để xác định thu nhập từ bồi thường nhà nước là: Quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc cơ quan hoặc cá nhân có quyết định sai phải bồi thường và chứng từ chi bồi thường.”
- Tại Điều 41 Bộ luật lao động được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 02/4/2002 quy định.
“1- Trong trường hợp người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì phải nhận người lao động trở lại làm công việc theo hợp đồng đã ký và phải bồi thường một khoản tiền tương ứng với tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất hai tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có).
Trong trường hợp người lao động không muốn trở lại làm việc, thì ngoài khoản tiền được bồi thường quy định tại đoạn 1 khoản này, người lao động còn được trợ cấp theo quy định tại Điều 42 của Bộ luật này.
Trong trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận người lao động trở lại làm việc và người lao động đồng ý thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại đoạn 1 khoản này và trợ cấp quy định tại Điều 42 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận về khoản tiền bồi thường thêm cho người lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.
…….
4. Trong trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước, bên vi phạm phải bồi thường cho bên kia một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.”
- Tại khoản 1, Điều 42 Bộ luật lao động quy định:
“Khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động đã làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức từ đủ 12 tháng trở lên, người sử dụng lao động có trách nhiệm trợ cấp thôi việc, cứ mỗi năm làm việc là nửa tháng lương, cộng với phụ cấp lương, nếu có.”
Căn cứ các quy định trên, trường hợp Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai ra quyết định buộc Công ty TNHH Bochang Donatours phải bồi thường cho ông Lu Tsung Ta khoản tiền bồi thường tương ứng với tiền lương theo đúng quy định của Bộ luật lao động do Công ty TNHH Bochang Donatours đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với ông Lu Tsung Ta thì khoản thu nhập này không tính vào thu nhập tính thuế thu nhập cá nhân.
Tổng cục Thuế thông báo để Cục Thuế tỉnh Đồng Nai được biết./.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
Công văn 3712/TCT-TNCN về chính sách thuế do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 3712/TCT-TNCN
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 23/09/2010
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Phạm Duy Khương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 23/09/2010
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
