Tổng quan về Công văn 3684/LĐTBXH-LĐTL
Công văn 3684/LĐTBXH-LĐTL do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành nhằm hướng dẫn thực hiện chế độ trợ cấp thôi việc cho người lao động. Đây là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng giúp các doanh nghiệp và người lao động xác định rõ quyền lợi, trách nhiệm và phương pháp tính toán trợ cấp thôi việc đúng quy định pháp luật.
Điều kiện hưởng trợ cấp thôi việc của người lao động
Theo hướng dẫn, người lao động được chi trả trợ cấp thôi việc khi đáp ứng đủ các điều kiện sau:
- Đã làm việc thường xuyên cho người sử dụng lao động từ đủ 12 tháng trở lên.
- Chấm dứt hợp đồng lao động theo đúng quy định pháp luật (trừ các trường hợp bị sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật hoặc đủ điều kiện hưởng lương hưu).
Xác định thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc
Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc được xác định bằng tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp và thời gian đã được chi trả trợ cấp thôi việc trước đó:
- Thời gian làm việc thực tế: Bao gồm thời gian thử việc, thời gian làm việc theo hợp đồng, thời gian được cử đi học, thời gian nghỉ hưởng chế độ bảo hiểm xã hội (ốm đau, thai sản), thời gian nghỉ lễ, tết, nghỉ hằng năm có hưởng lương.
- Thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp: Bao gồm thời gian người sử dụng lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp, thời gian được tính là đã đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp.
- Nguyên tắc làm tròn: Trường hợp thời gian làm việc tính trợ cấp thôi việc có tháng lẻ thì từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng được làm tròn thành 1/2 năm; từ đủ 06 tháng trở lên được làm tròn thành 01 năm làm việc.
Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc
Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc được quy định cụ thể như sau:
- Là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.
- Tiền lương này bao gồm mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác được ghi trong hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật lao động.
Trách nhiệm và thời hạn chi trả của người sử dụng lao động
Công văn nhấn mạnh trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc hoàn thành thủ tục và thanh toán quyền lợi cho người lao động:
- Trong thời hạn quy định kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản tiền có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên, trong đó có trợ cấp thôi việc.
- Kinh phí chi trả trợ cấp thôi việc được hạch toán vào chi phí quản lý hoặc chi phí sản xuất kinh doanh của người sử dụng lao động theo quy định của pháp luật tài chính.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 3684/LĐTBXH-LĐTL | Hà Nội, ngày 22 tháng 10 năm 2010 |
Kính gửi: Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Bến Tre
Trả lời công văn số 561/SLĐTBXH ngày 10/8/2010 của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Bến Tre về việc chế độ trợ cấp thôi việc, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:
1. Về trường hợp của ông Mạc Văn Kim:
- Đối với thời gian từ tháng 12/1981 đến tháng 02/1992 ông Kim làm việc tại Công ty Chuyên doanh mía đường, sau đó từ tháng 03/1992 đến tháng 10/1998 ông Kim được giữ lại Ban thanh lý tài sản khi Công ty Chuyên doanh mía đường bị giải thể: theo quy định tại Điều 14 Quyết định số 315-HĐBT ngày 01/9/1990 của Hội đồng Bộ trưởng về chấn chỉnh tổ chức lại sản xuất và kinh doanh trong khu vực kinh tế quốc doanh thì trong quá trình tiến hành các thủ tục giải thể xí nghiệp, giá trị thu được từ việc bán tài sản của xí nghiệp sau khi trừ các khoản chi cần thiết để thực hiện các thủ tục giải thể, được sử dụng theo thứ tự ưu tiên như: tiền lương và tiền bảo hiểm xã hội mà xí nghiệp còn nợ cán bộ công nhân viên; các khoản nợ của các chủ nợ; phần còn lại đem sử dụng để giải quyết quyền lợi về mặt vật chất cho người lao động theo Quyết định 176-HĐBT ngày 09/10/1989 của Hội đồng Bộ trưởng về sắp xếp lại lao động trong các đơn vị kinh tế quốc doanh. Nếu phần giá trị còn lại này không đủ để giải quyết quyền lợi của người lao động như đã nói trên thì ngân sách tỉnh, thành phố, tùy thuộc vào điều kiện cụ thể, dành một khoản chi hợp lý để hỗ trợ cho việc giải quyết những quyền lợi chính đáng của người lao động.
- Đối với thời gian từ tháng 10/1998 đến tháng 03/1999 ông Kim làm việc tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản – Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre (thuộc khu vực hành chính, sự nghiệp), vì vậy đề nghị Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Bến Tre trao đổi với Sở Nội vụ tỉnh Bến Tre để xem xét, giải quyết.
- Đối với thời gian từ tháng 03/1999 đến tháng 09/2009, Công ty cổ phần Mía đường Bến Tre đã chi trả chế độ trợ cấp thôi việc cho thời gian ông Kim làm việc tại Công ty là đúng với quy định của Nhà nước.
2. Về trường hợp của ông Nguyễn Gia Tế có quá trình chuyển công tác từ Ban Tuyên huấn thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh sang Văn phòng Sở Nông nghiệp Bến Tre và sang Xí nghiệp Liên hợp chăn nuôi và chế biến thực phẩm xuất khẩu trước năm 1995, vì vậy khi Xí nghiệp có quyết định giải thể và ông Tế được giữ lại để tiếp tục giải quyết công nợ đến tháng 07/1996 thì quyền lợi của ông được giải quyết theo quy định tại Điều 14 Quyết định số 315-HĐBT ngày 01/9/1990 của Hội đồng Bộ trưởng nêu trên.
Đề nghị Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Bến Tre căn cứ vào hồ sơ cụ thể của từng đối tượng và trao đổi với các đơn vị có liên quan để xem xét, giải quyết theo đúng quy định của Nhà nước.
|
Nơi nhận: | TL. BỘ TRƯỞNG |
Công văn 3684/LĐTBXH-LĐTL về chế độ trợ cấp thôi việc do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành
- Số hiệu: 3684/LĐTBXH-LĐTL
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 22/10/2010
- Nơi ban hành: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
- Người ký: Tống Thị Minh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 22/10/2010
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
