Giới thiệu về Công văn 3043/TCT-DNL
Công văn số 3043/TCT-DNL là văn bản nghiệp vụ do Tổng cục Thuế ban hành nhằm mục đích trả lời, giải đáp các vướng mắc và phản hồi ý kiến trong khuôn khổ đối thoại với doanh nghiệp. Văn bản này đóng vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn thực thi chính sách thuế, tháo gỡ các khó khăn thực tế cho người nộp thuế và đảm bảo tính thống nhất trong việc áp dụng pháp luật thuế trên toàn quốc.
Thông tin tổng quan về văn bản
- Tên văn bản: Công văn 3043/TCT-DNL trả lời đối thoại doanh nghiệp.
- Cơ quan ban hành: Tổng cục Thuế (Vụ Quản lý thuế Doanh nghiệp lớn).
- Mục tiêu ban hành: Giải quyết trực tiếp các kiến nghị, thắc mắc của cộng đồng doanh nghiệp liên quan đến nghĩa vụ thuế, quy trình kê khai, nộp thuế và các chính sách ưu đãi thuế liên quan.
Nội dung khái quát về phần mở đầu và các điều khoản đầu
Theo thông tin ghi nhận từ phần mở đầu và các nội dung liên quan, văn bản tập trung xác định các nguyên tắc cốt lõi sau:
- Xác định thẩm quyền và căn cứ pháp lý: Tổng cục Thuế đưa ra các nội dung trả lời dựa trên hệ thống Luật Quản lý thuế, các Luật thuế chuyên ngành (Thuế Thu nhập doanh nghiệp, Thuế Giá trị gia tăng, Thuế Thu nhập cá nhân) và các Nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành hiện hành.
- Đối tượng áp dụng: Hướng dẫn trực tiếp cho các doanh nghiệp có vướng mắc gửi đến hội nghị đối thoại, đồng thời là tài liệu tham khảo quan trọng cho các Cục Thuế địa phương trong quá trình quản lý và thanh tra, kiểm tra thuế.
- Nguyên tắc giải quyết vướng mắc: Đảm bảo tính khách quan, minh bạch, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người nộp thuế đồng thời ngăn ngừa các hành vi gian lận, thất thu ngân sách nhà nước.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 3043/TCT-DNL | Hà Nội, ngày 13 tháng 08 năm 2010 |
Kính gửi: Phòng Thương mại và Công nghiệp VN
Trả lời câu hỏi của Công ty/ Doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam nêu tại hội nghị đối thoại với người nộp thuế năm 2010, Bộ Tài chính có ý kiến như sau:
Câu hỏi:
1. Tài sản khấu hao hết nhưng vẫn còn hoạt động phục vụ sản xuất kinh doanh. Vậy mua bảo hiểm cho tài sản doanh nghiệp tính chi phí bảo hiểm trên cơ sở giá nào?
2. Dịch vụ tháng nào phát sinh phải xuất hoá đơn tháng đó, nếu vì lý do chưa xác nhận được khối lượng phát sinh giữa 2 bên mà phát hoá đơn vào tháng sau có được chấp nhận là chi phí hợp lý không? Văn phòng đại diện khác địa bàn của công ty có được thay mặt công ty xác nhận các khối lượng phát sinh của công ty hay không?
Trả lời:
1. Căn cứ Điểm 1 Mục IV Phần B Thông tư số 130 /2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 và hướng dẫn thi hành Nghị định số 124/2008/NĐ-CP ngày 11 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp quy định về điều kiện chi phí được khấu trừ khi xác định thu nhập chịu thuế như sau:
“Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp” và “Khoản chi có đủ hoá đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật”
Căn cứ hướng dẫn trên, tài sản cố định hết khấu hao nhưng vẫn còn phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu doanh nghiệp mua bảo hiểm cho tài sản trên thì vẫn được tính vào chi phí nếu có đầy đủ hoá đơn, chứng từ theo quy định. Về giá tính chi phí bảo hiểm không thuộc thẩm quyền của cơ quan thuế.
2. Căn cứ Điểm 2 Mục I Phần B Thông tư số 129/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế GTGT và hướng dẫn thi hành Nghị định số 123/2008/NĐ-CP ngày 08/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế GTGT về thời điểm xác định thuế GTGT như sau:
“Đối với bán hàng hoá là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hàng hoá cho người mua, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền. Đối với cung ứng dịch vụ là thời điểm hoàn thành việc cung ứng dịch vụ hoặc thời điểm lập hoá đơn cung ứng dịch vụ, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền”
Theo căn cứ hướng dẫn trên, dịch vụ phát sinh tháng nào phải xuất hoá đơn tháng đó. Trường hợp chưa xác nhận được khối lượng phát sinh giữa 2 bên mà phát hành hoá đơn vào tháng sau thì doanh nghiệp được trích các khoản chi phí tương ứng phù hợp với doanh thu của hoá đơn đã phát hành.
Việc văn phòng đại diện khác địa bàn (khác tỉnh) của công ty thay mặt công ty xác nhận các khối lượng phát sinh của công ty phải được uỷ quyền của công ty theo quy định của pháp luật.
Tổng cục Thuế trả lời để Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam thông báo đến các tổ chức, cá nhân nộp thuế biết.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1Thông tư 129/2008/TT-BTC hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định 123/2008/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng do Bộ Tài chính ban hành
- 2Thông tư 130/2008/TT-BTC hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 và Nghị định 124/2008/NĐ-CP thi hành một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp do Bộ Tài chính ban hành
Công văn 3043/TCT-DNL trả lời đối thoại doanh nghiệp do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 3043/TCT-DNL
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 13/08/2010
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Vũ Thị Mai
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 13/08/2010
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
