Công văn 2079/TCT-TNCN do Tổng cục Thuế ban hành là văn bản hướng dẫn quan trọng về chính sách thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với các khoản lợi ích mà người lao động nhận được từ người sử dụng lao động. Văn bản này giải quyết các vướng mắc thực tế của doanh nghiệp và cá nhân trong quá trình xác định thu nhập chịu thuế TNCN.
Chính sách thuế TNCN đối với chi phí đào tạo, nâng cao tay nghề
Theo hướng dẫn tại Công văn, khoản chi phí đào tạo nâng cao trình độ, tay nghề cho người lao động được quy định cụ thể như sau:
- Trường hợp doanh nghiệp chi trả chi phí đào tạo nâng cao trình độ, tay nghề cho người lao động phù hợp với công việc chuyên môn, nghiệp vụ của người lao động hoặc theo kế hoạch đào tạo của doanh nghiệp thì khoản chi phí này không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của người lao động.
- Trường hợp doanh nghiệp chi trả chi phí đào tạo cho người lao động học các khóa học không liên quan đến chuyên môn, nghiệp vụ hoặc không nằm trong kế hoạch đào tạo của đơn vị thì khoản chi này phải tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của người lao động dưới dạng lợi ích khác.
Chính sách thuế TNCN đối với thẻ hội viên và các dịch vụ vui chơi, giải trí
Đối với các khoản chi phí liên quan đến thẻ hội viên (như thẻ chơi golf, thẻ sân tennis, thẻ tập gym) và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, vui chơi giải trí khác:
- Nếu thẻ hội viên hoặc dịch vụ được sử dụng chung cho tập thể người lao động, không ghi đích danh tên cá nhân hoặc nhóm cá nhân cụ thể sử dụng thì khoản chi này không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của người lao động.
- Nếu thẻ hội viên hoặc dịch vụ ghi rõ tên cá nhân hoặc nhóm cá nhân được hưởng lợi ích thì khoản chi này phải tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của từng cá nhân được thụ hưởng.
Chính sách thuế TNCN đối với vé máy bay về phép của người lao động nước ngoài
Khoản chi phí vé máy bay khứ hồi do người sử dụng lao động chi trả cho người lao động nước ngoài về phép được xác định như sau:
- Khoản tiền vé máy bay khứ hồi về phép một lần trong năm của người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam được miễn thuế TNCN.
- Quy định này chỉ áp dụng đối với bản thân người lao động nước ngoài, không áp dụng cho các thành viên gia đình của người lao động.
- Doanh nghiệp cần quy định rõ khoản chi này trong hợp đồng lao động hoặc thỏa ước lao động tập thể để làm căn cứ thực hiện.
Chính sách thuế TNCN đối với công tác phí và văn phòng phẩm
Các khoản chi công tác phí, điện thoại, văn phòng phẩm, trang phục được thực hiện theo quy định chung:
- Khoản chi công tác phí, điện thoại, trang phục nếu được khoán chi phù hợp với mức quy định của quy chế tài chính doanh nghiệp hoặc quy chế nội bộ thì phần chi này không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN.
- Phần chi vượt mức khoán theo quy định của doanh nghiệp hoặc không có đầy đủ hóa đơn, chứng từ hợp lệ sẽ phải tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của người lao động.
Công văn 2079/TCT-TNCN mang lại sự rõ ràng trong việc phân định các khoản chi phí được trừ và các khoản thu nhập chịu thuế TNCN của người lao động. Việc nắm vững các quy định này giúp doanh nghiệp thực hiện đúng nghĩa vụ thuế, đồng thời tối ưu hóa quyền lợi hợp pháp cho người lao động.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 2079/TCT-TNCN | Hà Nội, ngày 15 tháng 06 năm 2010 |
Kính gửi: Công ty Cổ phần Tư vấn thuế Việt Nam (VinaTAX )
Trả lời công văn số 08/CV-VinaTAX – HN ngày 31/03/2010 của VinaTAX về việc chính sách thuế TNCN đối với Khoản lợi nhuận chia cho thành viên góp vốn của Công ty TNHH và thu nhập của cá nhân hành nghề độc lập, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
1. Chính sách thuế TNCN đối với Khoản lợi nhuận Công ty TNHH chia cho các thành viên góp vốn.
- Tại Điểm 3.3, Khoản 3, Mục II, phần A Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/09/2008 của Bộ Tài Chính thì thu nhập chịu thuế TNCN từ đầu tư vốn bao gồm: “ Lợi tức nhận được do tham gia góp vốn vào công ty TNHH, công ty hợp danh, hợp tác xã, liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh và các hình thức kinh doanh khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Luật Hợp tác xã.”
- Tại Điểm 1.3, Khoản 1, Mục II, phần B, Thông tư 84/TT-BTC ngày 30/09/2008 của Bộ Tài Chính thì: “ Thời Điểm xác định thu nhập tính thuế đối với thu nhập từ đầu tư vốn là thời Điểm tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập cho đối tượng nộp thuế”.
Căn cứ hướng dẫn nêu trên, cá nhân nhận được thu nhập từ lợi nhuận được chia do tham gia góp vốn vào công ty TNHH là thu nhập chịu thuế TNCN.
Nếu công ty chưa có quyết định chia lợi nhuận cho các thành viên góp vốn thì chưa phải kê khai nộp thuế TNCN.
Trường hợp thành viên góp vốn có tạm ứng tiền hoặc vay tiền của công ty TNHH thì các thành viên có trách nhiệm phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi cho công ty. Khoản tiền tạm ứng trước hoặc vay và trả lãi vay không thuộc đối tượng Điều chỉnh của Luật thuế TNCN.
Trường hợp thành viên góp vốn ứng trước lợi nhuận được chia thì công ty TNHH phải khấu trừ và nộp thuế 5% trên tổng số tiền ứng trước lợi nhuận được chia do góp vốn của thành viên.
2. Chính sách thuế đối với khoán thu nhập của cá nhân hành nghề độc lập.
- Tại Điểm 1.2, Khoản 1, Mục II, phần A Thông tư 84/2008/TT-BTC ngày 30/09/2008 của Bộ Tài Chính hướng dẫn các Khoản thu nhập chịu thuế từ kinh doanh bao gồm: Thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân trong lĩnh vực, ngành nghề được cấp giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của Pháp Luật.”
- Theo hướng dẫn tại tiết 1.1.2, Điểm 1.1, Khoản 1, Mục II, phần D Thông tư 84/2008/TT-BTC ngày 30/09/2008 của Bộ Tài Chính thì thu nhập từ kinh doanh của cá nhân cư trú không thuộc loại thu nhập phải khấu trừ thuế TNCN.
Căn cứ các hướng dẫn trên thì thu nhập từ hoạt động tư vấn, kiểm toán của Luật sư, kiểm toán viên hành nghề độc lập (Có giấy phép hành nghề theo quy định của Pháp Luật) là thu nhập từ kinh doanh, không thuộc loại thu nhập phải khấu trừ thuế TNCN. Cá nhân hành nghề độc lập phải thực hiện khai thuế, quyết toán thuế TNCN như sau:
- Đối với cá nhân có sổ sách kế toán thực hiện khai thuế TNCN thep hướng dẫn tại tiết 2.2.1, Điểm 2.2, Khoản 2, Mục II, phần D Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/09/2008 của Bộ Tài Chính.
Cá nhân hành nghề độc lập phải đăng ký kinh doanh đồng thời phải nộp các loại thuế áp dụng đối với hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật.
Trường hợp thu nhập từ hoạt động tư vấn, kiểm toán của Luật sư, kiểm toán viên hành nghề nhận được thông qua các doanh nghiệp mà các Luật sư, kiểm toán viên đó có kí hợp đồng thì được tính là thu nhập từ tiền lương, tiền công.
Tổng Cục Thuế trả lời để công ty Cổ phần tư vấn Thuế Việt Nam (VinaTAX) được biết.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
Công văn 2079/TCT-TNCN về chính sách thuế thu nhập cá nhân do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 2079/TCT-TNCN
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 15/06/2010
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Phạm Duy Khương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 15/06/2010
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
