Giới thiệu về Công văn 2050/TCT-CS
Công văn 2050/TCT-CS do Tổng cục Thuế ban hành là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng liên quan đến việc khấu trừ tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng vào tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp của các chủ đầu tư dự án. Đây là văn bản tháo gỡ nhiều vướng mắc thực tế cho doanh nghiệp và cơ quan thuế địa phương trong quá trình xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai.
Nguyên tắc khấu trừ tiền bồi thường giải phóng mặt bằng
Theo nội dung hướng dẫn của Tổng cục Thuế, việc khấu trừ chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được thực hiện dựa trên các nguyên tắc cốt lõi sau:
- Đối tượng áp dụng: Các tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất, đã tự nguyện ứng trước tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo phương án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
- Hình thức khấu trừ: Số tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã ứng trước theo phương án được duyệt sẽ được trừ vào tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất phải nộp cho ngân sách nhà nước.
- Giới hạn mức khấu trừ: Mức chi phí được khấu trừ tối đa không vượt quá số tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất phải nộp. Phần chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư còn lại chưa được khấu trừ hết (nếu có) sẽ được tính vào vốn đầu tư của dự án theo quy định của pháp luật.
Điều kiện để được ghi nhận và khấu trừ chi phí
Để được cơ quan thuế chấp thuận khấu trừ khoản tiền bồi thường đã ứng trước vào tiền sử dụng đất, người sử dụng đất cần đáp ứng đầy đủ các điều kiện pháp lý chặt chẽ:
- Phải có phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt theo đúng quy định của pháp luật về đất đai tại thời điểm thực hiện.
- Có chứng từ, hóa đơn hợp pháp chứng minh việc đã thực hiện chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho các đối tượng bị thu hồi đất theo đúng phương án đã được phê duyệt.
- Có văn bản xác nhận của cơ quan tài chính hoặc cơ quan có thẩm quyền về số tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng được phép trừ vào tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp.
Quy trình phối hợp giữa các cơ quan chức năng
Công văn cũng làm rõ trách nhiệm phối hợp giữa cơ quan Thuế và các cơ quan quản lý nhà nước khác tại địa phương nhằm đảm bảo tính chính xác, minh bạch:
- Cơ quan Tài chính hoặc Ban giải phóng mặt bằng: Có trách nhiệm thẩm định, xác định số tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng thực tế mà chủ đầu tư đã chi trả theo phương án được duyệt và ra văn bản xác nhận gửi cơ quan Thuế.
- Cơ quan Thuế: Căn cứ vào văn bản xác nhận của cơ quan tài chính và thông báo nghĩa vụ tài chính về đất đai để thực hiện việc cấn trừ trực tiếp số tiền được khấu trừ vào thông báo nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất gửi cho người nộp thuế.
Ý nghĩa thực tiễn của hướng dẫn tại Công văn 2050/TCT-CS
Văn bản hướng dẫn này mang lại nhiều giá trị thực tiễn đối với cả doanh nghiệp và cơ quan quản lý:
- Giúp doanh nghiệp tối ưu hóa dòng tiền, giảm bớt gánh nặng tài chính khi phải vừa ứng trước tiền giải phóng mặt bằng vừa phải nộp ngay tiền sử dụng đất cho toàn bộ diện tích dự án.
- Đảm bảo tính thống nhất trong việc áp dụng pháp luật thuế và đất đai trên phạm vi cả nước, hạn chế tình trạng mỗi địa phương áp dụng một kiểu gây khó khăn cho nhà đầu tư.
- Tạo hành lang pháp lý rõ ràng để cơ quan thuế địa phương tự tin thực hiện việc khấu trừ, tránh thất thoát ngân sách nhà nước nhưng vẫn bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người nộp thuế.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 2050/TCT-CS | Hà Nội, ngày 14 tháng 06 năm 2010 |
Kính gửi: Cục Thuế tỉnh Bình Dương
Trả lời công văn số 3390/CT-THNVDT ngày 15/4/2010 của Cục Thuế tỉnh Bình Dương về việc xin ý kiến quyết toán tiền bồi thường về đất được trả vào tiền sử dụng đất, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
- Tại Khoản 4 Điều 5 Nghị định số 198/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất quy định: " Trường hợp người được giao đất thực hiện bồi thường, hỗ trợ cho người có đất bị thu hồi theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 197/2004/NĐ- CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, thì được trừ số tiền đã bồi thường đất, hỗ trợ đất vào tiền sử dụng đất phải nộp, nhưng mức được trừ không vượt quá tiền sử dụng đất phải nộp".
- Tại Khoản 1 Điều 15 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư quy định: "Tổ chức, cá nhân trong nước; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; tổ chức, cá nhân nước ngoài được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai nếu thực hiện ứng trước tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng theo phương án đã được xét duyệt thì được ngân sách nhà nước hoàn trả bằng hình thức trừ vào tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp. Mức được trừ không vượt quá tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp.
Căn cứ quy định trên thì tiền bồi thường, hỗ trợ về đất được khấu trừ vào tiền sử dụng đất (SDĐ) phải nộp được xác định tương ứng với diện tích đất phải nộp tiền SDĐ. Do đó, đối với trường hợp dự án có quy mô lớn, đất được giao thành nhiều đợt thì việc xác định tiền bồi thường, hỗ trợ về đất được khấu trừ phải tương ứng với diện tích đất phải nộp tiền SDĐ được giao từng đợt cụ thể ghi tại quyết định giao đất của cơ quan có thẩm quyền (số tiền bồi thường, hỗ trợ về đất được trừ không phụ thuộc vào việc thanh toán tiền sử dụng đất với ngân sách nhà nước của người sử dụng đất.
Tổng cục Thuế trả lời để Cục Thuế được biết./.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
Công văn 2050/TCT-CS trừ tiền bồi thường về đất vào tiền sử dụng đất do Tổng cục thuế ban hành
- Số hiệu: 2050/TCT-CS
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 14/06/2010
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Vũ Thị Mai
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 14/06/2010
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
