Tổng quan về Công văn 200/TCT-KK về hoàn thuế giá trị gia tăng
Công văn 200/TCT-KK do Tổng cục Thuế ban hành là một văn bản chỉ đạo nghiệp vụ quan trọng nhằm tăng cường hiệu quả công tác quản lý, đẩy nhanh tiến độ giải quyết hồ sơ hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT) cho doanh nghiệp, đồng thời ngăn chặn các hành vi gian lận, trục lợi tiền hoàn thuế từ ngân sách nhà nước. Văn bản hướng dẫn chi tiết các Cục Thuế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương triển khai đồng bộ các giải pháp quản lý thuế chặt chẽ và minh bạch.
Các nội dung trọng tâm và chính sách cốt lõi của Công văn 200/TCT-KK
1. Phân loại và xử lý hồ sơ hoàn thuế GTGT theo đúng quy định
Tổng cục Thuế yêu cầu các cơ quan thuế địa phương thực hiện nghiêm túc việc phân loại hồ sơ hoàn thuế GTGT nhằm tối ưu hóa quy trình giải quyết:
- Hồ sơ thuộc diện hoàn thuế trước, kiểm tra sau: Áp dụng đối với các doanh nghiệp có lịch sử tuân thủ pháp luật thuế tốt, không có dấu hiệu rủi ro cao. Cơ quan thuế phải khẩn trương xử lý, ban hành quyết định hoàn thuế trong thời hạn quy định để hỗ trợ nguồn vốn kịp thời cho doanh nghiệp duy trì và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Hồ sơ thuộc diện kiểm tra trước, hoàn thuế sau: Áp dụng đối với các hồ sơ thuộc diện rủi ro cao về thuế, hóa đơn, doanh nghiệp mới thành lập, hoặc doanh nghiệp có các giao dịch kinh tế đáng ngờ. Quá trình kiểm tra phải tập trung xác minh tính hợp pháp của hóa đơn đầu vào, thực tế giao dịch mua bán hàng hóa và dòng tiền thanh toán.
2. Tăng cường áp dụng quản lý rủi ro trong công tác hoàn thuế
Để nâng cao tính chính xác và phòng ngừa gian lận, Công văn chỉ đạo các cơ quan thuế đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và quản lý rủi ro:
- Khai thác triệt để cơ sở dữ liệu hóa đơn điện tử để thực hiện đối chiếu chéo, phát hiện nhanh chóng các trường hợp sử dụng hóa đơn bất hợp pháp hoặc lập hóa đơn khống nhằm hợp thức hóa hồ sơ hoàn thuế.
- Tập trung thanh tra, kiểm tra trọng điểm đối với các doanh nghiệp xuất khẩu các mặt hàng có rủi ro cao như nông sản, lâm sản, thủy hải sản, linh kiện điện tử, đá quý, khoáng sản.
3. Đẩy nhanh tiến độ giải quyết và nâng cao trách nhiệm của cán bộ thuế
Công văn 200/TCT-KK đặt ra yêu cầu nghiêm ngặt về thời gian giải quyết hồ sơ và đạo đức công vụ của cán bộ thuế:
- Nghiêm cấm mọi hành vi gây phiền hà, sách nhiễu, tự ý kéo dài thời gian giải quyết hồ sơ hoàn thuế của doanh nghiệp mà không có lý do chính đáng hoặc không đúng quy định pháp luật.
- Thủ trưởng các Cục Thuế, Chi cục Thuế phải chịu trách nhiệm toàn diện trước Tổng cục Thuế nếu để xảy ra tình trạng chậm trễ, tồn đọng hồ sơ hoàn thuế do nguyên nhân chủ quan từ phía cơ quan thuế.
- Tăng cường công tác phối hợp liên ngành với cơ quan Hải quan, Công an, Ngân hàng và chính quyền địa phương để xác minh nguồn gốc xuất xứ hàng hóa, tính xác thực của các giao dịch thanh toán qua ngân hàng đối với các trường hợp có dấu hiệu nghi vấn.
4. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế
Bên cạnh việc kiểm soát chặt chẽ, Tổng cục Thuế cũng nhấn mạnh vai trò đồng hành cùng doanh nghiệp của cơ quan thuế:
- Chủ động tổ chức các buổi đối thoại, hướng dẫn doanh nghiệp hoàn thiện hồ sơ hoàn thuế GTGT đúng quy định ngay từ khâu tiếp nhận.
- Công khai, minh bạch quy trình, thủ tục và tình trạng giải quyết hồ sơ hoàn thuế trên trang thông tin điện tử của ngành Thuế để doanh nghiệp dễ dàng theo dõi, giám sát.
- Kịp thời ghi nhận và báo cáo cấp có thẩm quyền giải quyết các vướng mắc phát sinh vượt quá thẩm quyền nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người nộp thuế tuân thủ tốt pháp luật.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 200/TCT-KK | Hà Nội, ngày 19 tháng 1 năm 2010 |
Kính gửi: Cục Thuế tỉnh Hải Dương
Trả lời công văn số 3914/CT-KK&KTT ngày 24/11/2009 của Cục Thuế tỉnh Hải Dương về việc hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT), Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
1. Về hợp đồng xuất khẩu hàng hoá:
Căn cứ Khoản 2 Điều 27 Luật Thương mại năm 2005: "Mua bán hàng hoá quốc tế phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương".
Căn cứ quy định về của hợp đồng dân sự tại Điều 402 Bộ luật Dân sự năm 2005: "Tuỳ theo từng loại hợp đồng, các bên có thể thoả thuận về những nội dung sau đây: 1. Đối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao, công việc phải làm hoặc không được làm; 2. Số lượng, chất lượng; 3. Giá, phương thức thanh toán; 4. Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng; 5. Quyền, nghĩa vụ của các bên; 6. Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; 7. Phạt vi phạm hợp đồng; 8. Các nội dung khác".
Đề nghị Cục Thuế tỉnh Hải Dương căn cứ các quy định trên để kiểm tra xác định Hợp đồng xuất khẩu hàng hoá mà Công ty TNHH sản xuất ván sàn Việt Nam ký bán cho khách hàng nước ngoài là đại lý của Công ty ở nước ngoài có hợp lệ để làm căn cứ xem xét hoàn thuế theo chế độ quy định.
2. Về hoá đơn bán hàng xuất khẩu:
Căn cứ quy định xử phạt vi phạm trong lập hoá đơn bán hàng tại khoản 2 Điều 14 Nghị định số 89/2002/NĐ-CP ngày 07/11/2002 của Chính phủ về việc in, phát hành, sử dụng, quản lý hoá đơn.
Căn cứ hướng dẫn về hàng hoá xuất khẩu áp dụng thuế suất thuế GTGT 0%, xác định thuế GTGT đầu vào được khấu trừ, điều kiện, thủ tục khấu trừ thuế GTGT đối với hàng hoá xuất khẩu và hoá đơn bán hàng tại Điểm 1 Mục II, các Điểm 1.2(c.8) và 1.3(c) Mục III, các Điểm 2.3 và 2.5 Mục IV Phần B Thông tư số 129/2008/TT-BTC ngày 26/12/2009 của Bộ Tài chính về thuế GTGT.
Theo báo cáo của Cục Thuế tỉnh Hải Dương: Công ty TNHH sản xuất ván sàn Việt Nam được cơ quan Hải quan xác nhận hàng hoá xuất khẩu tại tờ khai hải quan ngày 27/3/2009; Công ty căn cứ phụ lục hợp đồng ngày 24/6/2009 về việc thay đổi giá bán để lập hoá đơn bán hàng dẫn tới chênh lệch với giá trị hàng hoá xuất khẩu trên tờ khai hải quan.
Căn cứ các quy định trên, về nguyên tắc:
- Sau khi làm xong thủ tục hải quan xuất khẩu hàng hoá, Công ty phải lập hoá đơn GTGT bán hàng theo giá đã thoả thuận ghi trên hợp đồng; nếu cơ quan thuế phát hiện cơ sở kinh doanh không lập hóa đơn khi bán hàng theo quy định thì bị xử phạt vi phạm theo quy định tại Nghị định số 89/2002/NĐ-CP nêu trên.
- Trường hợp sau khi hàng hoá đã xuất khẩu, hai bên mua bán có lập phụ lục hợp đồng thoả thuận điều chỉnh giá bán đã thoả thuận trên hợp đồng nêu trên thì Công ty lập hoá đơn GTGT điều chỉnh giá bán đã ghi tại hoá đơn GTGT đã lập có liên quan.
Trường hợp Công ty TNHH sản xuất ván sàn Việt Nam nêu trên lập hoá đơn bán hàng sau khi mở tờ khai hải quan (sau khi cơ quan Hải quan xác nhận hàng xuất khẩu trên tờ khai hải quan) là hợp lệ. Tuy nhiên, do Công ty không lập hoá đơn bán hàng theo giá ghi trên Hợp đồng xuất khẩu sau khi cơ quan Hải quan xác nhận hàng xuất khẩu trên Tờ khai hải quan ngày 27/3/2009, mà sau đó 03 tháng mới lập hoá đơn bán hàng căn cứ Phụ lục hợp đồng ký ngày 24/6/2009 nên Công ty bị xử phạt về hành vi không lập hoá đơn khi bán hàng hoá theo quy định.
Trường hợp hoá đơn bán hàng do Công ty lập (sau khi hai bên mua bán có Phụ lục hợp đồng xuất khẩu) có ghi rõ giá bán đã giảm (giá thực thanh toán theo Phụ lục hợp đồng) và được kê khai thuế trong thời gian 06 tháng kể từ tháng phát sinh xuất khẩu hàng hoá thì Công ty được xét hoàn thuế GTGT đầu vào nếu đảm bảo điều kiện, thủ tục về khấu trừ thuế đối với hàng hoá xuất khẩu và có đủ hồ sơ hoàn thuế theo quy định. Công ty được tính doanh thu bán hàng xuất khẩu căn cứ số lượng hàng hoá thực xuất khẩu theo tờ khai hải quan, nội dung hợp đồng xuất khẩu, số tiền phía nước ngoài thanh toán ghi trên chứng từ thanh toán qua ngân hàng và hoá đơn bán hàng có liên quan.
Tổng cục Thuế thông báo để Cục Thuế tỉnh Hải Dương biết. Đề nghị Cục Thuế kiểm tra cụ thể và hướng dẫn đơn vị thực hiện đúng quy định tại các văn bản pháp luật về thuế, các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan và hướng dẫn tại công văn này./.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1Bộ luật Dân sự 2005
- 2Luật Thương mại 2005
- 3Nghị định 89/2002/NĐ-CP quy định về việc in, phát hành, sử dụng, quản lý hoá đơn
- 4Thông tư 129/2008/TT-BTC hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định 123/2008/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng do Bộ Tài chính ban hành
Công văn 200/TCT-KK về hoàn thuế giá trị gia tăng do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 200/TCT-KK
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 19/01/2010
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Phạm Duy Khương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 19/01/2010
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
