Ngày 27 tháng 5 năm 1966, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Thông tư số 76-TTg/CN quy định việc phân ngành cụ thể trong công nghiệp nhằm thống nhất hệ thống phân loại các ngành hoạt động công nghiệp, phục vụ đắc lực cho công tác lập kế hoạch, thống kê và quản lý kinh tế quốc dân trong giai đoạn mới.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Thông tư này áp dụng đối với tất cả các cơ quan quản lý nhà nước, các Bộ, ngành, Ủy ban hành chính các địa phương cùng toàn bộ các xí nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trên phạm vi cả nước. Quy định này nhằm đồng bộ hóa hệ thống chỉ tiêu thống kê, giúp đánh giá chính xác năng lực sản xuất và cơ cấu ngành công nghiệp quốc gia.
Nguyên tắc phân loại và tiêu chuẩn xác định ngành công nghiệp
- Hoạt động công nghiệp được xác định dựa trên tính chất của quá trình sản xuất, công nghệ kỹ thuật sử dụng và mục đích sử dụng cuối cùng của sản phẩm đầu ra.
- Phân định rõ ràng giữa hoạt động sản xuất công nghiệp với các hoạt động kinh tế khác như nông nghiệp, lâm nghiệp, xây dựng cơ bản và dịch vụ thương mại để tránh trùng lặp hoặc bỏ sót trong báo cáo thống kê.
- Đối với các xí nghiệp hỗn hợp thực hiện nhiều hoạt động sản xuất khác nhau, việc phân loại vào ngành sản xuất chính sẽ dựa trên tỷ trọng giá trị sản lượng hoặc số lượng lao động tham gia chủ yếu vào hoạt động đó.
Hệ thống phân ngành công nghiệp chính
- Nhóm ngành công nghiệp nặng (Nhóm A - Sản xuất tư liệu sản xuất): Tập trung vào các ngành khai thác mỏ, luyện kim, cơ khí chế tạo, hóa chất, sản xuất vật liệu xây dựng, khai thác và chế biến gỗ, điện lực và nhiên liệu. Đây là nhóm ngành đóng vai trò chủ đạo, cung cấp trang thiết bị kỹ thuật và nguyên nhiên liệu cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
- Nhóm ngành công nghiệp nhẹ (Nhóm B - Sản xuất tư liệu tiêu dùng): Bao gồm công nghiệp dệt, may mặc, da giày, chế biến lương thực thực phẩm, sản xuất đồ dùng gia đình, văn phòng phẩm và các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu khác nhằm phục vụ trực tiếp nhu cầu đời sống nhân dân và xuất khẩu.
Quy định chi tiết về phân ngành cấp dưới
- Mỗi ngành công nghiệp lớn được chia nhỏ thành các phân ngành cụ thể dựa trên đối tượng lao động và quy trình công nghệ đặc thù. Ví dụ, ngành cơ khí được chia thành cơ khí chế tạo máy, cơ khí sửa chữa, sản xuất dụng cụ kim loại.
- Ngành hóa chất được phân chia chi tiết thành hóa chất cơ bản, phân bón, hóa dược, và các sản phẩm cao su, nhựa.
- Ngành công nghiệp thực phẩm bao gồm xay xát lương thực, chế biến đường, sữa, nước giải khát, thuốc lá và đồ hộp.
Tổ chức thực hiện và chế độ báo cáo
- Tổng cục Thống kê phối hợp với các Bộ quản lý ngành chịu trách nhiệm ban hành hướng dẫn chi tiết, giải thích nội dung cụ thể của từng ngành để áp dụng thống nhất trong cả nước.
- Các Bộ, ngành và Ủy ban hành chính các địa phương có trách nhiệm rà soát, phân loại lại các xí nghiệp thuộc quyền quản lý theo đúng danh mục phân ngành mới.
- Mọi số liệu báo cáo kế hoạch, thống kê định kỳ của các đơn vị cơ sở phải tuân thủ nghiêm ngặt theo hệ thống phân ngành đã được quy định tại Thông tư này.
Hiệu lực thi hành
Thông tư 76-TTg/CN-1966 có hiệu lực kể từ ngày ban hành. Các quy định trước đây trái với Thông tư này đều bãi bỏ. Việc áp dụng bảng phân ngành mới này là cơ sở pháp lý quan trọng để xây dựng các kế hoạch phát triển kinh tế dài hạn và hằng năm của đất nước.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 76-TTG/CN | Hà Nội, ngày 07 tháng 05 năm 1966 |
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Hội đồng Chính phủ đã ra Nghị định số 82-CP ngày 03-6-1963 về việc phân chia các ngành trong nền kinh tế quốc dân và Thủ tướng Chính phủ cũng đã ra thông tư số 51-TTg ngày 3-6-1963 giải thích nghịđịnh số 82-CPcủa Hội đồng Chính phủ, đồng thời Tổng cục Thống kê đã ra văn bản số 559-TCTK ngày 26 tháng 9 năm 1963 để hướng dẫn việc sắp xếp các tổ chức, đơn vị và cơ quan vào các ngành trong nền kinh tế quốc dân theo nghị định và thông tư nói trên, nhưng việc phân chia các ngành kinh tế quốc dân thành từng ngành cụ thể thì chưa có văn bản ban hành chính thức.
Mấy năm vừa qua, việc phân ngành cụ thể trong công nghiệp căn bản là phù hợp với tình hình sản xuất công nghiệp của nước ta, nhưng việc sắp xếp từng đơn vị sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp vào các ngành nghề cụ thể của công nghiệp thì chưa được thống nhất giữa các ngành, các cấp từ trung ương đến địa phương. Do đó, những số liệu thống kê kế hoạch và hạch toán chưa được thống nhất, chưa làm cơ sở vững chắc cho công tác nghiên cứu kinh tế, công tác tổ chức quản lý và các mặt công tác nghiệp vụ khác. Vì vậy, Thủ tướng Chính phủ thấy cần thiết giao cho Tổng cục Thống kê nghiên cứu và ban hành “Quy định việc phân ngành cụ thể trong công nghiệp” kèm theo thông tư này.
Việc phân ngành cụ thể trong công nghiệp nhằm:
Nguyên tắc phân ngành phải thống nhất lấy đơn vị cơ sở để sắp xếp. Đơn vị cơ sở có thể là xí nghiệp công nghiệp độc lập hay phụ thuộc, hợp tác xã sản xuất tiểu công nghiệp hay thủ công nghiệp và các cơ sở sản xuất công nghiệp hoặc thủ công nghiệp khác.
Khi xếp một đơn vị cơ sở vào ngành này hay ngành khác cần căn cứ vào sự liên quan giữa ba đặc điểm chủ yếu sau đây là:
a) Công dụng kinh tế của sản phẩm sản xuất ra giống nhau.
b) Nguyên liệu chủ yếu để làm ra sản phẩm giống nhau.
c) Tính chất và quá trình công nghệ giống nhau, để xếp những cơ sở đó cùng ngành hay khác ngành.
Nội dung phân ngành trong công nghiệp bao gồm việc phân chia toàn bộ ngành công nghiệp ra ngành:
c) 13 ngành công nghiệp lớn:
2. Công nghiệp khai thác và chế biến nhiên liệu.
3. Công nghiệp khai thác và luyện kim đen.
4. Công nghiệp khai thác và luyện kim màu.
5. Công nghiệp chế tạo máy móc và sản phẩm bằng kim loại:
- Chế tạo máy móc và sản phẩm bằng kim loại.
- Sửa chữa máy móc và sản phẩm bằng kim loại.
6. Công nghiệp khai thác quặng hóa học và công nghiệp hóa học.
7. Công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng.
8. Công nghiệp khai thác chế biến gỗ và lâm sản.
9. Công nghiệp thủy tinh, sành sứ và đồ đá.
10. Công nghiệp dệt, da, may, nhuộm.
12. Công nghiệp in và sản xuất các loại văn hóa phẩm.
13. Các ngành công nghiệp khác.
Bản quy định này được áp dụng thống nhất từ trung ương đến địa phương, trong tất cả các cơ quan quản lý công nghiệp và các cơ quan tổng hợp, nghiên cứu kinh tế.
Thủ tướng Chính phủ lưu ý thủ trưởng các Bộ, các Tổng cục, các ngành, Chủ tịch Ủy ban hành chính các tỉnh và thành phố có trách nhiệm thi hành đúng đắn thông tư này.
| KT. THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ |
- 1Nghị định 82-CP năm 1963 về việc phân chia các ngành trong nền kinh tế quốc dân do Hội đồng Chính phủ ban hành
- 2Thông tư 51-TTg năm 1963 giải thích Nghị định 82-CP về việc phân chia các ngành trong nền kinh tế quốc dân do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 3Nghị định 37-CP năm 1974 về ban hành bảng phân ngành kinh tế quốc dân do Hội đồng Chính phủ ban hành
- 1Quyết định 486-TCTK/CN năm 1966 về bản quy định việc phân ngành cụ thể trong công nghiệp và bảng mục lục ngành nghề cụ thể trong công nghiệp do Tổng cục trưởng Tổng cục thống kê ban hành
- 2Nghị định 82-CP năm 1963 về việc phân chia các ngành trong nền kinh tế quốc dân do Hội đồng Chính phủ ban hành
- 3Thông tư 51-TTg năm 1963 giải thích Nghị định 82-CP về việc phân chia các ngành trong nền kinh tế quốc dân do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 4Nghị định 37-CP năm 1974 về ban hành bảng phân ngành kinh tế quốc dân do Hội đồng Chính phủ ban hành
Thông tư 76-TTg/CN-1966 quy định việc phân ngành cụ thể trong công nghiệp do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- Số hiệu: 76-TTg/CN
- Loại văn bản: Thông tư
- Ngày ban hành: 07/05/1966
- Nơi ban hành: Thủ tướng Chính phủ
- Người ký: Trịnh Văn Bính
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 7
- Ngày hiệu lực: 22/05/1966
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
